Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam

Thứ hai 17/02/2014 16:48

PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình

(Tài chính) An ninh năng lượng là một trong những vấn đề được các quốc gia đặc biệt quan tâm bởi năng lượng là yếu tố đầu vào quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội.

An ninh năng lượng là một trong những vấn đề được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Nguồn: internet

An ninh năng lượng được coi là “chìa khóa” để các quốc gia tránh được nguy cơ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vấn đề năng lượng và đáp ứng được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng ngày càng nhiều đã tác động tiêu cực đến sự phát triển, làm cho trái đất nóng lên, tăng phát thải khí nhà kính...

Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng

Tăng trưởng kinh tế gắn liền với gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là điện năng. Tăng trưởng kinh tế càng nhanh đòi hỏi nguồn năng lượng sử dụng càng lớn. Với tốc độ phát triển của kinh tế thế giới và nhu cầu tiêu thụ năng lượng, nguồn năng lượng truyền thống đang cạn kiệt dần. Sự phụ thuộc ngày một nhiều vào việc nhập khẩu nguyên nhiên liệu có thể làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội. Vì lẽ đó, an ninh năng lượng được xem là có quan hệ mật thiết tới sự tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị - xã hội.

Trong 3 thập kỷ (1976 - 2006), tổng nguồn năng lượng sơ cấp tiêu thụ trên thế giới đã tăng từ 6 tỷ tấn quy dầu (TOE) một năm lên tới 12 tỷ tấn quy dầu (TOE)(1). Trong đó, năng lượng hóa thạch chiếm 80% tổng năng lượng. Từ năm 2000, tình trạng tiêu thụ năng lượng hóa thạch có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế mới nổi.

Sự phát triển kinh tế “nóng” của các quốc gia châu Á đi kèm với nhu cầu về năng lượng tăng cao. Nhu cầu năng lượng của châu Á tăng khoảng 40% (so với mức tăng chưa đến 5% của Bắc Mỹ). Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (International Energy Agency - IEA), châu Á cần khoản đầu tư hơn 10.000 tỷ USD vào ngành năng lượng trong giai đoạn (2012-2022)(2).

Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) xét về tiêu thụ năng lượng. Cơn khát năng lượng ngày càng tăng của Trung Quốc là hậu quả của sự bùng nổ kinh tế, sự mở rộng ngoại thương, gia tăng thu nhập, gia tăng dân số và đô thị hoá không ngừng khiến mức tiêu thụ năng lượng tính theo đầu người đang gia tăng. Theo IEA, lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng gấp 5 lần (từ 2 triệu thùng dầu mỗi ngày lên gần 11 triệu thùng dầu mỗi ngày) vào năm 2030. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ buộc phải nhập khẩu 80% lượng dầu mỏ tiêu dùng trong nước.

Trong khu vực châu Á, ASEAN có mức tăng trưởng nhanh nhất nên luôn đòi hỏi nguồn cung ứng năng lượng nhiều để tiếp thêm nhiên liệu cho sự tăng trưởng kinh tế. Mặc dù giá dầu mỏ tăng hiện nay không gây ảnh hưởng mạnh tới sự tăng trưởng của các nền kinh tế ASEAN, nhưng nếu giá dầu tiếp tục tăng trong một khoảng thời gian dài sẽ gây ra những tác động bất lợi đối với các nền kinh tế ASEAN. Chi phí cung ứng năng lượng cao hơn sẽ gây ra những áp lực lạm phát mạnh hơn, đẩy tỷ lệ lãi suất lên cao và làm đảo ngược các hành vi tiêu dùng và đầu tư. Chi tiêu nhập khẩu năng lượng tăng cao sẽ gây ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô của ASEAN, làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ, tỷ giá ngoại hối mất ổn định và cán cân thanh toán suy yếu.

Theo đánh giá của Hãng Oxford Economic Forecasting Ltd, giá dầu mỏ tăng thêm 10 USD/thùng sẽ đẩy tỷ lệ lạm phát ở châu Á tăng lên 1%, làm giảm cán cân thương mại mất 0,3% và kiềm chế tăng trưởng GDP 0,6%. Giá dầu mỏ đẩy lên 20 USD/thùng sẽ làm cho kịch bản xấu đi và đẩy các nền kinh tế ASEAN mất 1,2% tăng trưởng GDP, giảm 0,7% trong cán cân thương mại và chỉ số giá tiêu dùng tăng thêm 1,9%. Thái Lan đã phải giảm bớt mục tiêu tăng trưởng từ 6% xuống 4,6% (năm 2013) do giá nhiên liệu tăng cao. Xu hướng giá dầu mỏ tăng đang gây nên một gánh nặng tài chính cho chính phủ các nước ASEAN.

Tiêu hao năng lượng cho một đơn vị sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Cường độ năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5 - 1,7 lần. So với các nước phát triển, tỷ lệ giữa nhu cầu năng lượng so với tăng trưởng GDP của Việt Nam cao gấp gần 2 lần, trong khi ở các nước phát triển tỉ lệ này là dưới 1.

Việc sử dụng năng lượng không hiệu quả có nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, do rào cản kỹ thuật. Công nghệ lạc hậu, các thiết bị sản xuất cũ kỹ và chậm đổi mới, tỷ lệ hao hụt quá nhiều trong khâu chuyển tải; sự thiếu hiểu biết về tiết kiệm năng lượng, thiếu công cụ đo, thiếu thông tin về công nghệ tiết kiệm năng lượng, ý thức của cán bộ quản lý, cán bộ vận hành thiết bị năng lượng kém... là những lý do chủ yếu. Thứ hai, do rào cản kinh tế. Đó là việc phân tích tài chính không phù hợp, thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn phát triển công nghệ trong ngành năng lượng trong khi phần lớn công nghệ trong ngành năng lượng đều lạc hậu, cũ kỹ. Thứ ba, do rào cản về thể chế, chính sách. Thiếu các chính sách thúc đẩy việc sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm và hiệu quả.

Trong bối cảnh hiện nay, việc cung cấp năng lượng hiện đang gặp một số khó khăn: Một là, tình trạng giá nhiên liệu tăng, đặc biệt giá nhiên liệu hóa thạch tăng cao, trong khi năng lượng hóa thạch (đặc biệt là dầu mỏ) vẫn đang được coi là nguồn năng lượng quan trọng nhất chưa có dạng năng lượng nào thay thế được; Hai là, biến đổi khí hậu ảnh hưởng xấu đến vấn đề năng lượng. Hành tinh đang nóng dần lên và chưa có các giải pháp ứng phó hữu hiệu; Ba là, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng về lâu dài. Chỉ có an ninh năng lượng mới có thể bảo đảm tăng trưởng kinh tế của các nước nghèo, cũng như bảo đảm để tất cả mọi người đều được tiếp cận với năng lượng.

Trong lịch sử nhân loại, cuộc chiến năng lượng luôn ở vị trí trung tâm. Hiện nay cuộc chiến này đang ở mức khốc liệt hơn(3). Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, để tăng trưởng kinh tế không kéo theo mức tăng tiêu hao năng lượng cần có chiến lược táo bạo thay đổi năng lượng dựa theo 3 hướng chính sau: Sử dụng năng lượng hợp lý; Nâng cao hiệu quả năng lượng và Phát triển năng lượng tái sinh.

Vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam

Việt Nam nằm trong top những nước tiêu thụ năng lượng tương đối lớn so với khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ khá cao của Việt Nam giúp cải thiện mức sống của người dân và làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng. Dự báo, tăng trưởng nhu cầu năng lượng của Việt Nam là 8,1-8,7% giai đoạn (2001-2020).

Do đã đạt tới vị trí của một quốc gia có thu nhập trung bình (1300 USD/người/năm 2012), Việt Nam cần có chính sách cho một nền kinh tế có lượng khí thải CO2 thấp và bảo đảm an ninh năng lượng với biến đổi khí hậu.

Việt Nam là quốc gia nằm ở trung tâm của Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, gió, mưa nhiều, có điều kiện tự nhiên đặc biệt tốt để phát triển năng lượng tái tạo, với nguồn sinh khối ở mức khoảng 2.500 MW, thủy điện nhỏ ở mức 7.000 MW, điện gió ở mức 3.000 MW… Tuy nhiên, khả năng khai thác nguồn năng lượng này còn khiêm tốn với khoảng 150 MW sinh khối, 1.100 MW thủy điện nhỏ, 55 MW điện gió đã được khai thác(4). Nguyên nhân của tình trạng khai thác không hiệu quả này là do kết cấu hạ tầng còn hạn chế, chính sách chưa đủ mạnh, nguồn lực hạn hẹp (đặc biệt là nguồn lực về tài chính) trong khi lĩnh vực năng lượng tái tạo đòi hỏi nguồn đầu tư tài chính và nhân lực rất lớn.

Kinh nghiệm của các nước phát triển mạnh về các nguồn năng lượng tái tạo đã khẳng định rằng, các dự án năng lượng tái tạo mang lại số lượng việc làm đáng kể cho địa phương đặt dự án. Đây là điều hết sức quan trọng, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào như Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần hỗ trợ đặc biệt cho các dự án năng lượng tái tạo như miễn giảm thuế; miễn giảm tiền thuê đất…

Nhu cầu năng lượng cần cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam là rất lớn. Và để khai thác các nguồn năng lượng an toàn, công nghệ đơn giản, không đắt tiền, bảo vệ môi trường thì Việt Nam cần ưu tiên khai thác nguồn năng lượng gió. Theo Ngân hàng thế giới (WB), tiềm năng điện gió của Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á, với tổng công suất ước tính khoảng 513.360MW (gấp 10 lần tổng công suất về nhu cầu điện năm 2020). Năng lượng gió là nguồn phát điện quan trọng nhất, sẽ được phát triển lên khoảng 1.000 MW (năm 2020) và 6.200 MW (năm 2030). Điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm từ 0,7% (năm 2020) lên 2,4% (năm 2030). Tiếp theo là các nguồn năng lượng tái tạo khác như nhiệt điện từ mặt trời (là nguồn điện bổ sung tốt nhất, sạch nhất, chủ động nhất và rẻ nhất so với điện khí, diesel, hạt nhân), quang điện, thủy triều, địa nhiệt, sinh khối, nhiên liệu sinh học kết hợp với điện khí, điện than, thủy điện.

Năng lượng mặt trời với độ bức xạ từ 4-6KW/h đang được các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất phục vụ cho miền núi, hải đảo, (những nơi chưa có điện), cho ngư dân. Năng lượng thủy triều, sóng biển với tiềm năng rất lớn cho sản xuất điện phục vụ trực tiếp cho hàng triệu hộ dân lưu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải. Nhiên liệu sinh học với tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu để sản xuất như sắn hơn 10 triệu tấn/năm (đứng thứ 5 thế giới), các phế phẩm nông nghiệp như bã mía, vỏ các loại hạt cà phê, cao su… với công suất sử dụng nhiên liệu sinh học lên đến 2 triệu tấn ethanol, biodiesel E5-E10 vào năm 2025.

Năm 2011, Việt Nam triển khai xây dựng Chiến lược tăng trưởng xanh (2011-2030) và tầm nhìn 2050. Chiến lược này là quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Dự báo Việt Nam cần khoảng 130 tỷ USD giai đoạn (2010-2030) để đầu tư vào ngành năng lượng, trong đó 65,5% sẽ được chi cho phát triển điện. Cùng với điện, dầu khí cũng là một trong những lĩnh vực ưu tiên đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, để điều đó trở thành hiện thực, Việt Nam cần tiếp tục thu hút đầu tư vào công nghệ, đặc biệt là các công nghệ thăm dò và khai thác dầu.

Tóm lại, không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia đang phát triển khác cũng đang đẩy mạnh kế hoạch phát triển nguồn năng lượng gió, năng lượng mặt trời (đặc biệt sau sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản). Đây là hướng đi cần được quan tâm đầu tư, phát triển.

-----------------------------------------------

(1) Theo Chính sách sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam, Hội thảo quốc tế về chính sách hiệu quả năng lượng, ngày 9 đến ngày 10/4/2008. Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Cơ quan quản lý môi trường và Năng lượng (ADEME).

(2) Châu Á trước những thách thức an ninh năng lượng. Theo PetroTimes ngày 11/12/2012.

(3) Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất (năm 1973), do các nước OPEC chủ động ngưng sản xuất dầu và thực hành cấm vận, không cung cấp dầu cho Mỹ và những nước phương Tây; Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai (năm 1979), do các cơ sở sản xuất, khai thác dầu ở Iran bị phá hủy trong cuộc cách mạng Hồi giáo, tiếp sau là cuộc chiến Iraq - Iran năm 1980 đã làm việc sản xuất dầu ở cả Iran và Iraq bị hoàn toàn đình trệ, không có dầu để cung cấp cho thế giới; Nguy cơ Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ ba, do nhu cầu tăng quá cao ở những nền kinh tế mới đang phát triển, sự tăng trưởng kinh tế mạnh và liên tục trong nhiều năm liền, trong đó 2/3 mức tăng lên là do nhu cầu của hai nền kinh tế lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, 1/3 còn lại là do nhu cầu của các nền kinh tế đang phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu.

(4) Theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Cường - Giám đốc trung tâm năng lượng tái tạo và Cơ chế phát triển sạch, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương. Theo tapchicongsan.org.vn

Từ khóa: năng lượng tái tạo , tăng trưởng kinh tế , ASEAN , biến đổi khí hậu , nền kinh tế , tăng trưởng , Châu Á , giá dầu , An ninh năng lượng Các tin đã đưa Tập trung kiểm toán tài chính, bảo hiểm Kinh tế Việt Nam 2014: Cơ hội và giải pháp lớn! Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Cần một cuộc "ân xá" để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam "Điểm mặt" những mục tiêu cơ bản của Luật Đấu thầu 2013 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Màu sắc của tăng trưởng kinh tế

Màu sắc của tăng trưởng kinh tế

Thứ bảy 08/02/2014 15:00

(Tài chính) Muốn biết sáng/tối và trạng thái của tăng trưởng, phải thông qua việc so sánh: So với thời kỳ trước, so với mục tiêu đề ra, so với các nước. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2012 đạt 5,25%, rơi xuống “đáy” tính từ năm 2000; chỉ cao hơn mức “đáy” 4,77% của năm 1999.

Xuất khẩu tăng cao chủ yếu do khu vực FDI đạt quy mô và tốc độ tăng cao. Nguồn: internet

Mãi đến năm 2013 tăng trưởng kinh tế mới có dấu hiệu cao lên qua các quý, tính chung cả năm tăng 5,42%, tuy chưa đạt kế hoạch (5,5%), nhưng đã cao hơn tốc độ tăng của năm trước và coi như vẫn đạt được mục tiêu tổng quát (tăng trưởng cao hơn). Đây là dấu hiệu của trạng thái tăng trưởng: Tăng trưởng kinh tế đã “thoát đáy, vượt dốc đi lên”.

Với tăng trưởng kinh tế như trên, với tốc độ tăng dân số tiếp tục giữ được ở mức thấp (1,05%), với tỷ giá VND/USD cơ bản ổn định, nên GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế bình quân năm 2013 đạt đỉnh cao mới (1.899 USD, cao hơn đỉnh cũ 1.749 USD đạt được vào năm 2012).

Cùng với mảng sáng về tăng trưởng kinh tế, lạm phát năm 2013 đã được kiềm chế. CPI năm 2013 đã thấp hơn năm trước và thấp nhất trong 10 năm qua, là năm đầu tiên không lặp lại chu kỳ “2 năm tăng cao, 1 năm tăng thấp” đã diễn ra trong 9 năm trước đây. Theo đó, mục tiêu kép (lạm phát thấp hơn, tăng trưởng kinh tế cao hơn) của năm 2013 đã được thực hiện. Tỷ giá ổn định trong thời gian tương đối dài. Giá vàng năm trước tăng thấp, năm nay giảm sâu và thập kỷ vàng tăng phi mã (đến mức “vàng bỏ ống cũng có lãi”) đã kết thúc. “Các nơi trú ẩn của dòng vốn” diễn biến như vậy đã góp phần kiềm chế lạm phát, giảm bớt tình trạng đô la hoá, vàng hoá nền kinh tế.

Xuất khẩu đạt được nhiều sự vượt trội. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất từ trước tới nay. Bình quân đầu người vượt kỷ lục cũ. Xuất khẩu/GDP đạt kỷ lục mới. Tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP. Đã có 22 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD, trong đó lần đầu tiên có 1 mặt hàng vượt qua mốc 21,5 tỷ USD (điện thoại).

Đã có 23 tỉnh/thành phố đạt trên 1 tỷ USD, trong đó lần đầu tiên có 1 tỉnh đạt trên 26 tỷ USD (Bắc Ninh) và 1 thành phố đạt trên 29,5 tỷ USD (TP. Hồ Chí Minh). Sự vượt trội của xuất khẩu, cùng với lượng ngoại tệ vào Việt Nam từ các nguồn (FDI, ODA, kiều hối, chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam) và tâm lý găm giữ USD, vàng giảm, nên cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục thặng dư, dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng và đã vượt 12 tuần nhập khẩu - ranh giới an toàn tài chính và tính thanh khoản của quốc gia.

Đan xen với màu sáng, nền kinh tế vẫn còn những mảng tối và tăng trưởng kinh tế vẫn chưa thật sự thoát khỏi trì trệ, chưa có xung lực mới để bứt phá.

Ngay trong các mảng sáng ở trên cũng còn đan xen các điểm tối. Tăng trưởng kinh tế cao lên, nhưng chủ yếu do tăng trưởng của nhóm ngành dịch vụ, còn nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản và nhóm ngành công nghiệp-xây dựng vẫn tăng thấp hơn năm trước. Số doanh nghiệp thành lập mới gia tăng và số đã quay trở lại hoạt động đạt khá, nhưng số giải thể và tạm ngừng hoạt động vẫn còn cao hơn 3 năm trước. Ba điểm nghẽn (nợ xấu, tồn kho, tiêu thụ) tuy có “vơi” đi ít nhiều, nhưng vẫn còn cản trở lớn đối với tăng trưởng kinh tế.

Lạm phát thấp hơn, xuất siêu năm thứ hai liên tiếp, ngoài những yếu tố tích cực tác động, còn có yếu tố không tích cực là do tổng cầu bị suy giảm. Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GDP năm 2013 ở mức thấp nhất so với hàng chục năm trước; tốc độ tăng bán lẻ trong nước sau khi loại trừ yếu tố tăng giá vẫn còn thấp, tăng trưởng dư nợ tín dụng thấp trong 3 năm liền (bình quân chỉ bằng 1/3 thời kỳ 2006-2010). Đặc biệt, bên cạnh tâm lý “thắt lưng buộc bụng”, “tích cốc phòng cơ” đã xuất hiện, tâm lý “co cụm, thủ thế” trong không ít ngân hàng thương mại và doanh nghiệp.
Đan xen với màu sáng, nền kinh tế vẫn còn những mảng tối và tăng trưởng kinh tế vẫn chưa thật sự thoát khỏi trì trệ, chưa có xung lực mới để bứt phá.

Xuất khẩu tăng cao chủ yếu do khu vực FDI đạt quy mô và tốc độ tăng cao. Xuất siêu chủ yếu do xuất siêu lớn ở khu vực FDI, với các thị trường Hoa Kỳ, Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Anh, Hongkong, Campuchia, Hà Lan, Australia, Đức, Nhật Bản, Tây Ban Nha. Nhưng nhập siêu lớn ở khu vực kinh tế trong nước và với các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...

Cân đối ngân sách năm nay gặp khó khăn lớn nhất trong hàng chục năm qua khi tỷ lệ so với dự toán và tốc độ so với năm trước của chi ngân sách cao hơn của thu ngân sách, làm cho bội chi ngân sách/GDP tăng, phải phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ.

Vui mừng với các mặt sáng, với trạng thái “thoát đáy”, nhưng cần quan tâm đến các điểm tối và trạng thái còn trì trệ của nền kinh tế. Với đà cao lên, thoát đáy của năm Quý Tỵ; kỳ vọng năm Giáp Ngọ, tăng trưởng kinh tế sẽ “vượt dốc đi lên” với động lực, xung lực mới như thông điệp đầu năm của Thủ tướng. Theo danviet.vn

Từ khóa: tăng trưởng kinh tế , xuất siêu , GDP , USD , lạm phát , tăng trưởng , xuất khẩu , FDI , kim ngạch xuất khẩu , vốn đầu tư , FDI Các tin đã đưa Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Màu sắc của tăng trưởng kinh tế 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tính kỹ để bảo đảm tính khả thi của mô hình ngân hàng tiết kiệm nhà ở Của để dành ngày một giảm Hành động vì niềm tin của người dân và doanh nghiệp Tập trung cải cách thủ tục hành chính ở các dự án đầu tư Kinh tế năm 2014: Vấn đề chỉ còn là hành động Luận bàn về những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam Năm 2014: "Giữ" lạm phát phải quyết liệt ngay từ đầu năm Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Lưu ý một số điểm mới tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về thuế Thu nhập cá nhân Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 Hướng dẫn cách tính thuế Thu nhập cá nhân mới nhất năm 2014 Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Không vội vã Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tái cấu trúc nền kinh tế để tăng trưởng bền vững

Tái cấu trúc nền kinh tế để tăng trưởng bền vững

Thứ năm 16/01/2014 14:27

(Tài chính) Sự chuyển động tình hình kinh tế năm 2014 và 2015 cũng như của những năm tiếp theo phụ thuộc rất lớn vào việc đổi mới thể chế và tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới.

Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng là nhiệm vụ cấp thiết lúc này. Nguồn: internet

Xác định mô hình tăng trưởng
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết lúc này, bởi mô hình tăng trưởng mà chúng ta theo đuổi trong những năm qua đến nay đã bộc lộ rất nhiều hạn chế.

“Bất cập lớn nhất của nền kinh tế hiện nay, đó là dù tăng trưởng đã được cải thiện nhưng chất lượng tăng trưởng chưa cao và chưa bền vững”, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận xét và chứng minh bằng tỷ lệ đóng góp của yếu tố vốn và lao động trong tăng trưởng GDP vẫn ở mức khá lớn.

Cụ thể, từ năm 2010 đến nay, tương ứng mức đóng góp của yếu tố vốn và lao động là 68,19% và 23,11%; 55,53% và 26,8%; 59,16% và 30,86%; 55,79% và 17,12%. Tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào gia tăng đầu tư dẫn đến những hệ lụy như gia tăng gánh nặng nợ, nhất là nợ công; khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; gia tăng ô nhiễm môi trường...

Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khá rõ qua đóng góp cho tăng trưởng của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP), gồm tăng hiệu quả đầu tư và tăng năng suất lao động trên cơ sở đổi mới kỹ thuật - công nghệ. “Chỉ số TFP ở các nước như Hàn Quốc là 51,32%, Malaysia: 36,18%, Thái Lan: 36,14% so với con số 19,59% của Việt Nam đã chứng minh, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam chưa cao.

Đặc biệt, chất lượng tăng trưởng thể hiện qua “thước đo” hệ số về hiệu quả đầu tư ICOR của nền kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp. Trong giai đoạn từ 2011 - 2013, hiệu quả đầu tư đã cao lên với tỷ lệ vốn đầu tư/GDP là 31,5%, với tốc độ tăng GDP là 5,64%, hệ số ICOR là 5,6 lần. Với mức này, hệ số ICOR của nước ta vẫn cao gấp rưỡi, gấp đôi so với nhiều nước”, ông Nguyễn Bích Lâm cho biết.

Những bất cập của mô hình tăng trưởng cũng có thể được nhận diện trên nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô. Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012 nhưng sự gia tăng xuất khẩu chủ yếu dựa vào khu vực FDI. Giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp thấp là do công nghiệp hỗ trợ - yếu tố then chốt để nâng tỷ trọng nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm, giảm giá thành - cho đến nay vẫn thiếu chính sách phát triển. Sản xuất nông nghiệp có nhiều lợi thế, nhưng do dựa vào xuất thô với giá trị gia tăng thấp, chưa thực sự đặt vào khuổn khổ cạnh tranh toàn cầu, nên không thể cải thiện được thị trường của 70% dân số sống ở nông thôn.

Những dẫn chứng ở trên cho thấy, năng suất và hiệu quả đang là thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình cạnh tranh và hội nhập quốc tế đang diễn ra. Do đó, quan điểm của Chính phủ tại Đề án Tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng giai đoạn 2013 - 2020, được thông qua vào tháng 2/2013 đã xác định gắn quá trình tái cơ cấu nền kinh tế với thay đổi mô hình tăng trưởng, trọng tâm hướng vào gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực đã nhận được sự đồng tình của các chuyên gia kinh tế.

Gắn tái cơ cấu với phân bổ lại nguồn lực xã hội

Đề án Tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng giai đoạn 2013 - 2020, trong đó đã phân kỳ giai đoạn 2013 - 2015 ưu tiên tập trung tái cơ cấu ba lĩnh vực: đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và tập đoàn tổng công ty nhà nước. Theo TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội, quá trình thực hiện các chính sách và giải pháp mà Chính phủ đã đề ra cho mục tiêu tái cơ cấu sẽ có tác động làm tăng tổng cầu và phân bố lại nguồn lực xã hội theo hướng hợp lý.

“Dư địa để cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực vẫn còn khá nhiều. Nếu tạo chuyển biến từ sử dụng hợp lý các nguồn lực cho quá trình tái cơ cấu thì sẽ giúp cho quá trình tái cơ cấu thành công”, TS. Trần Du Lịch tin tưởng.

Đề xuất của TS. Trần Du Lịch và các chuyên gia kinh tế về vai trò của việc phân bổ nguồn lực xuất phát từ những lo ngại về việc sử dụng nguồn lực hiện nay trong xã hội. Có nhiều ví dụ cho thấy việc sử dụng các nguồn lực chưa thật sự hiệu quả. Trong lĩnh vực triển khai các dự án đầu tư công, so sánh chi phí xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam với các nước là một ví dụ. Theo công bố của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương có chi phí 9,9 triệu USD/km cho bốn làn xe cơ giới. Đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây dự kiến chi phí cũng lên tới 18,3 triệu USD/km.

Trong khi đó, chi phí xây dựng đường cao tốc tại Trung Quốc khoảng 6 triệu USD/km, tại Mỹ khoảng 8 triệu USD/km. “Sự chèn lấn của đầu tư công với đầu tư của tư nhân có thể là một trong những nguyên nhân khiến chi phí đầu tư cao. Do đó, trong xây dựng cơ sở hạ tầng, cần ưu tiên chính sách hợp tác công - tư để có những đóng góp quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả phân bổ của nền kinh tế cũng như giảm thiểu hiệu ứng lấn át đầu tư công như cách làm trong thời gian qua”, ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội đề xuất.

Ủy ban Kinh tế Quốc hội cũng đưa ra nhiều dẫn chứng khác cho thấy bất hợp lý của việc phân bổ nguồn lực. Ví dụ như việc trợ cấp giá điện sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực bị bóp méo, dẫn đến sản xuất và đầu tư thái quá ở những ngành tiêu thụ nhiều điện như xi măng hay cán thép. Đối với đầu vào, những ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước về đất đai hay các nguồn lực sản xuất khác cũng sẽ làm giảm hiệu quả phân bổ rất thấp. Cho đến năm nay, khu vực kinh tế nhà nước chiếm 38,1% tổng vốn đầu tư xã hội song chỉ đóng góp 33,7% vào GDP của cả nước và chỉ tạo việc làm cho khoảng 10,4% số lao động.

Trong khi đó, khu vực tư nhân trong nước chiếm tới 36,1% tổng vốn đầu tư xã hội nhưng lại đóng góp 47,5% vào GDP. Những số liệu trên cho thấy, sự thiếu hiệu quả phân bổ vẫn khá rõ ràng. Do đó, Ủy ban Kinh tế Quốc hội đề xuất, tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng trước hết phải bắt đầu từ quyết tâm chính trị trong việc thay đổi mạnh mẽ cơ chế phân bổ nguồn lực để có thể sử dụng nguồn lực của đất nước một cách hiệu quả nhất.

Quyền Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Nguyễn Đình Cung cũng đồng tình với quan điểm của Ủy ban Kinh tế Quốc hội về tái cơ cấu kinh tế gắn với phân bố lại nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường. “Qua đó, nguồn lực xã hội sẽ được phân bố lại hợp lý hơn, được sử dụng có hiệu quả hơn. Sự thay đổi về phân bố nguồn lực nói trên sẽ từng bước làm thay đổi cách thức tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu và dần nâng cấp trình độ phát triển của nền kinh tế. Nếu không thực sự hành động để có sự thay đổi này, dù có quyết tâm cũng không thể đẩy nhanh tiến độ theo đúng mong muốn”, ông Nguyễn Đình Cung nhận định.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Cung, sắp xếp, phân bổ lại nguồn lực cần tránh cách làm hình thức như việc triển khai thoái vốn đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước. “Cần phải xác định, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là để thay đổi lại động lực, phân bố lại nguồn lực trên phạm vi quốc gia và toàn nền kinh tế chứ không chỉ là chuyển nguồn lực nhà nước từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác như cách sắp xếp lâu nay đã làm.

Chính vì vậy, mục tiêu của thoái vốn không thể chỉ là cắt lỗ, bán, thoái vốn những khoản đầu tư lỗ mà phải là tối ưu hóa hiệu quả sử dụng của phần vốn đó. Bản chất của tái cơ cấu kinh tế là thay đổi hệ thống đòn bẩy khuyến khích, loại bỏ và thay thế các động lực khuyến khích lệch lạc dẫn đến những sai lệch trong phân bố và sử dụng nguồn lực quốc gia, bằng hệ thống động lực hợp lý, phù hợp với chuẩn mực kinh tế thị trường”, ông Nguyễn Đình Cung lưu ý.

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cũng cho rằng, một trong những cách thức hiệu quả để thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế là tập trung phân bổ nguồn lực hợp lý để tạo ra hiệu quả và động lực lớn hơn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ví dụ như trong lĩnh vực đầu tư công, ông Trần Đình Thiên cho rằng, cần thay đổi cách phân bổ nguồn lực dàn trải. Hệ quả của việc nguồn lực ít trong khi cách phân bổ nguồn lực dàn trải là quá nhiều công trình dở dang, gây tình trạng lãng phí. Trong phân bổ nguồn lực cần sắp xếp ưu tiên cái gì cần giải quyết ngay, cái gì chưa. Ví dụ chúng ta có tới 200 dự án tồn kho nhưng do nguồn lực có hạn chỉ nên ưu tiên giải quyết 50 dự án.

“Bản chất của tái cơ cấu là thay đổi hệ thống phân bổ nguồn lực, chứ không đơn giản là số lượng nhiều hay ít, hay có bao nhiêu ngân hàng là vừa. Nếu chúng ta có tư duy về cách thức phân bổ nguồn lực hợp lý thì tình thế khó khăn hiện nay vẫn có thể xoay chuyển được”, ông Trần Đình Thiên nhấn mạnh.

Theo baotintuc.vn

Từ khóa: tái cấu trúc kinh tế , mô hình tăng trưởng , hiệu quả đầu tư ICOR , Sản xuất nông nghiệp , sản xuất công nghiệp , nguồn lực xã hội Các tin đã đưa Kiểm soát hoạt động thực hiện dịch vụ tại các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí Tái cấu trúc nền kinh tế để tăng trưởng bền vững Giải pháp tái cơ cấu hiệu quả ngành nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, giấc mơ nhà Hà Nội có thành sự thực? Những giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát năm 2014 (*) Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Cần chuyên nghiệp hơn để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài Giải tỏa điểm nghẽn cho giám sát thị trường tài chính Quản lý đầu tư công ở địa phương: Những bất cập từ phân cấp Thực trạng kiểm toán tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Hải quan Quảng Ninh: Triệt phá đường dây buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 28 cá nhân ngành Công an Kinh tế Việt Nam – Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân vững vàng và khối óc minh mẫn Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 2014: Áp lực !

Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 2014: Áp lực !

Thứ năm 09/01/2014 11:00

(Tài chính) Với những biến động mạnh trong điều hành chính sách vĩ mô, điều chỉnh tăng đầu tư công, tăng dư nợ tín dụng, tiền lương, giá điện, than và dịch vụ công, câu chuyên lạm phát của năm 2014 sẽ như thế nào?  


PGS., TS. Ngô Trí LongPhóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS., TS. Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế xung quanh vấn đề này.
Phóng viên: Thưa ông nhiều chuyên gia có ý kiến rằng sẽ có 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế và lạm phát xảy ra trong giai đoạn năm 2014, quan điểm của ông thế nào?

PGS., TS. Ngô Trí Long: Có hai 2 kịch bản có khả năng xảy ra. Kịch bản thứ nhất, đó là chính sách điều hành dần đi vào cuộc sống sẽ giúp nền kinh tế giải quyết những khó khăn. Kịch bản này được cho là nhiều khả năng xảy ra hơn, khi nền kinh tế giải quyết được những khó khăn với chính sách điều hành dần đi vào cuộc sống. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2014 có thể đạt 5,67% và CPI khoảng 7%.

Kịch bản thứ hai, tăng trưởng cao, đi kèm với tác động tích cực từ đà phục hồi kinh tế thế giới đồng thời tận dụng lợi thế từ việc mở rộng đầu tư qua các hiệp định thương mại. Dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2014 sẽ đạt ở mức 6,2%, CPI vẫn duy trì mức 7%.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ khá thành công. Trong đó việc giảm lãi suất quyết liệt. Tuy nhiên, mức lạm phát 6% - 7% đã đặt họ vào thế khó hơn bởi lẽ không thể coi con số này là thấp được trong điều kiện kinh tế đang yếu.

Vậy theo ông, mức lạm phát như thế nào thì phù hợp với nền kinh tế Việt Nam hiện tại ?

Tôi cho rằng đối với tình hình kinh tế Việt Nam hiện tại, mức lạm phát dưới 6% là phù hợp hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tái cấu trúc và chính sách tiền tệ. Vấn đề là khi đặt mục tiêu lạm phát ở mức nào thì chính sách của các bộ, ban ngành sẽ chỉ quanh quẩn ở con số đó, trong khi chúng ta có thể làm tốt hơn. Ví như năm 2012, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát lạm phát ở mức 5%, thậm chí tốt hơn để tạo dư địa cho các chính sách vĩ mô khác…

Vậy chúng ta cần có biện pháp gì để thực hiện được các mục tiêu trên, thưa ông?

Để ổn định giá cả trong năm 2014, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan và lộ trình hợp lý về thời điểm tăng giá,… Lạm phát năm 2014 cũng sẽ đối mặt với nhiều áp lực hơn nếu có biến động mạnh trong điều hành chính sách vĩ mô, nhất là khi điều chỉnh tăng đầu tư công, tăng dư nợ tín dụng, tiền lương, giá điện, than và dịch vụ công.

Mức lạm phát dưới 6% là phù hợp hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tái cấu trúc và chính sách tiền tệ.

Cần tập trung kiểm soát lạm phát ngay cả khi vẫn ở mức thấp để tránh rủi ro cho những năm tới. Trong đó, cần tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ, điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng, dịch vụ công thiết yếu như điện, than, xăng dầu, nước, dịch vụ y tế... theo lộ trình phù hợp, bảo đảm yêu cầu kiểm soát lạm phát, công khai minh bạch và có hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo. Cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Chính phủ cũng cần có giải pháp cụ thể, giúp  doanh nghiệp chuẩn bị và nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Mặc dù các bước cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện từ nhiều năm, nhưng tốc độ còn chậm và hiệu quả còn thấp.

Vì thế, các chương trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, cổ phần hóa  doanh nghiệp cần phải được Chính phủ chỉ đạo và thực hiện nhanh và mạnh hơn trong năm 2014. Cùng với đó, giải quyết nhanh và hiệu quả hơn vấn đề nợ xấu, hoàn thành cơ bản việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp.

Xin cảm ơn ông!

Theo dddn.com.vn

Từ khóa: chính sách vĩ mô , đầu tư công , dư nợ tín dụng , tiền lương , giá điện , than , dịch vụ công , lạm phát , PGS. , TS. Ngô Trí Long Các tin đã đưa Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 2014: Áp lực ! Minh bạch bằng tiêu chí cụ thể Không chủ quan với lạm phát Tái cơ cấu đầu tư công: Thực trạng và một số khuyến nghị Phương pháp thống kê vận tải ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện thể chế - “Cú hích” quyết định cho tăng trưởng kinh tế Tăng cường tái cơ cấu tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu 2014: Tập trung kiểm toán sở hữu chéo ngân hàng Bước ngoặt ổn định kinh tế vĩ mô Tái cơ cấu đầu tư công: Nhìn từ vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất BIDV hợp tác với Ogilvy&Mather Việt Nam thực hiện dự án Tư vấn xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Tiềm năng thị trường bất động sản năm 2014 Ban Kinh tế Trung ương: “Vừa chạy vừa xếp hàng” vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Từng bước lấy lại đà tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp:

Từng bước lấy lại đà tăng trưởng

Thứ tư 08/01/2014 08:50

(Tài chính) Theo đánh giá của Bộ Công Thương, sản xuất công nghiệp năm 2013 có sự phục hồi, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 5,9%, cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm 2012.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng khoảng 5,9%, cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm 2012. Nguồn: internet

Phục hồi khá nhanhVề tăng trưởng của nhóm ngành, ngành có mức tăng trưởng cao nhất là ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải, tăng 9,1%, tiếp đó là ngành sản xuất và phân phối điện, tăng 8,5%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ ba, tăng 7,4%.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo xét về mức tăng trưởng đứng thứ ba nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng 5,5% của năm 2012 và chiếm khoảng 71% giá trị tăng thêm của toàn ngành.

Một số ngành công nghiệp sản xuất năm 2013 tăng cao so với năm 2012 gồm: ngành dệt (sợi, hàng may mặc trừ trang phục), sản xuất thiết bị điện và xe có động cơ, tăng trên 20%; sản xuất da và sản phẩm liên quan, giày dép, cấu kiện kim loại tăng trên 15%...

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 11 tháng năm 2013 so với cùng kỳ năm trước tăng 9,2%, cao hơn so với mức tăng của những năm trước (cùng kỳ năm 2012 tăng 3,6% và năm 2011 tăng 1,5%). Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao gồm: Sản xuất xe có động cơ tăng 35,2%, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 29,5%,  sản xuất thiết bị điện tăng 19,4%, sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 16,6%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,9%; sản xuất đồ uống tăng 13,7%, dệt tăng 12,8%... Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm gồm: sản xuất giấy, sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất, sản xuất kim loại, sản xuất giường, tủ, bàn ghế...

Tồn kho sản phẩm đã có chuyển biến tích cực. Chỉ số tồn kho trong lĩnh vực chế biến, chế tạo có xu hướng giảm dần qua các tháng, nếu như tính từ thời điểm 1/1/2013 chỉ số tồn kho tăng 21,5% so với cùng kỳ thì đến 1/12/2013 chỉ số tồn kho chỉ còn tăng 10,2%.

Những ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn so với mức tăng chung: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,8%, dệt tăng 6,3%. Ngành có chỉ số tồn kho giảm là: Sản xuất linh kiện điện tử giảm 52,6%, sản xuất vải dệt thoi giảm 45,7%, sản xuất xe có động cơ giảm 37,8%, sản xuất đồ uống giảm 21,9%, sản xuất pin và ắc quy giảm 12,3%, sản xuất sản phẩm phi kim loại giảm 11,3%, sản xuất trang phục giảm 1,4%...

Phát triển thiếu chiều sâu

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo của Bộ Công Thương về sản xuất công nghiệp cũng cho thấy, giá trị sản xuất công nghiệp tuy có tăng trưởng so với năm 2012 nhưng còn ở mức chưa cao như mục tiêu đặt ra. Ngành khai khoáng có mức tăng trưởng giảm, tập trung ở những sản phẩm là nguyên liệu đầu vào của sản xuất như: Than, dầu thô, đá, cát, sỏi, đất sét... Điều này đã phản ánh thực tế khi sản xuất suy giảm, nhu cầu sử dụng nguyên, nhiên liệu giảm, sản xuất vì thế giảm theo.

Hoạt động đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, dẫn đến nguồn nguyên liệu và phụ tùng, linh kiện phục vụ sản xuất trong một số lĩnh vực vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu khiến cho giá thành sản phẩm hàng hoá của Việt Nam chưa cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu cùng loại.

Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp vẫn chưa khắc phục được tình trạng phát triển theo chiều rộng, theo hướng gia công, lắp ráp; trình độ công nghệ sản xuất chưa được nâng cao đáng kể; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị chưa đạt yêu cầu phát triển... Do đó, giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cải thiện nhiều.

Tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế cạnh tranh

Tiến độ hoàn thành của một số dự án đầu tư sản xuất còn chậm. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh lâu dài, bền vững nên bị động trước những biến động của thị trường, làm giảm hiệu quả của quá trình sản xuất, kinh doanh.

Trong hai năm 2014 – 2015, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, từng bước lấy lại đà tăng trưởng cao của ngành công nghiệp.

Bên cạnh đó là nghiên cứu xây dựng và điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện từng vùng, thị trường, phát triển các cụm công nghiệp, khu công nghiệp theo hướng tập trung, liên kết để khuyến khích các thành phần kinh tế tập trung đầu tư phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sử dụng đầu vào là các sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất kinh doanh.

Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra đối với các dự án đầu tư trọng điểm của ngành công nghiệp như các dự án nguồn và lưới điện, dầu khí, luyện kim, chế biến khoáng sản, hoá chất và phân bón, xi măng,... để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ, tránh gây thất thoát, lãng phí và ảnh hưởng tới cân bằng nguồn cung cầu trên thị trường.

Tập trung rà soát, điều chỉnh nếu cần thiết các quy hoạch phát triển nhằm khai thác các tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy phát triển kinh tế, hỗ trợ triển khai các dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư; rà soát, xử lý và thu hồi đối với các dự án đầu tư không triển khai hoặc chậm tiến độ.

Theo baocongthuong.com.vn

Từ khóa: Sản xuất công nghiệp , Bộ Công Thương , Chỉ số sản xuất công nghiệp , công nghiệp chế biến , chỉ số tồn kho , dự án đầu tư sản xuất , tăng trưởng Các tin đã đưa Xu hướng mới của bán lẻ: Mặc cả Muốn sống các doanh nghiệp phải tự cứu mình Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi Từng bước lấy lại đà tăng trưởng Năm 2014: Sản xuất kinh doanh ấm dần 7 điều kiện để trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 5 điều kiện để tổ chức nước ngoài sở hữu từ 10% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam 5 tín hiệu khả quan ngành Ngân hàng đầu năm 2014 Thắng “đậm” nhưng vẫn âu lo Doanh nghiệp phải quản lý công nợ chặt chẽ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết Quy định mới được sửa đổi, bổ sung về thuế Giá trị gia tăng Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Những cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam trong năm 2014 Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi

Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi

Thứ tư 08/01/2014 09:24

(Tài chính) Câu chuyện đi tìm động lực cho tăng trưởng 2014 mới đang dừng ở bề nổi, nghĩa là vẫn thiên về tăng trưởng bằng vốn và tài nguyên. Trong khi để có được mức tăng trưởng cao và bền vững hơn, cần tăng trưởng bằng năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Động lực cho tăng trưởng 2014 mới đang dừng ở bề nổi. Nguồn: internet

Thực ra, đây đã là điều được nhắc tới từ khá lâu. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, câu chuyện chất lượng tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bởi không sớm cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam có thể sẽ chỉ dẫm chân tại chỗ. Và dù tăng trưởng GDP năm 2014 có đạt mục tiêu 5,8%, còn năm 2015 là 6 - 6,2% đi chăng nữa, thì khó có thể hy vọng tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn sau.

Tăng trưởng chưa bền vững

"Bất cập lớn nhất của nền kinh tế là dù tăng trưởng đã được cải thiện nhưng chất lượng chưa cao và chưa bền vững", ông Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, nhận xét và chứng minh bằng tỷ lệ đóng góp yếu tố vốn và lao động trong tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn ở mức khá lớn. Cụ thể, từ năm 2010 đến nay, tương ứng mức đóng góp của yếu tố vốn và lao động là 68,19% và 23,11%; 55,53% và 26,8%; 59,16% và 30,86%; 55,79 - 17,12%.

"Điều đó có nghĩa đóng góp cho tăng trưởng của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) rất thấp", ông Lâm nói và viện dẫn các con số 51,32% của Hàn Quốc, 36,18% của Malaysia; 36,14% của Thái Lan và 35,19% của Trung Quốc so với con số 19,59% của Việt Nam để chứng minh, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam chưa cao. "Quá trình tái cơ cấu kinh tế diễn ra khá chậm và đây cũng là yếu tố gây cản trở cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam", ông Lâm nói.

Quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam hiện đang nằm giữa 2 nhóm phát triển thấp và trung bình. Từ thực tế này, 2 câu hỏi cần đặt ra là: Thứ nhất, tại sao mặc dù xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn, đồng thời tỷ lệ đầu tư trên GDP lại rất cao so với các nước trong khu vực nhưng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chỉ ở mức trung bình của khu vực? Thứ hai, tăng trưởng của Việt Nam có ổn định và bền vững hay không?

Cả 2 câu hỏi này đều không phải là những câu hỏi dễ dàng. Theo ông Lâm, đối với câu hỏi đầu tiên, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam không cao vì hiệu quả đầu tư của nền kinh tế thấp, được thể hiện qua hệ số ICOR - là hệ số cho biết số đơn vị đầu tư (tính theo % của GDP) cần thiết để đạt được 1% đơn vị tăng trưởng GDP, nghĩa là nếu chỉ số này càng cao thì hoạt động đầu tư càng kém hiệu quả.

Nhìn vào ICOR của Việt Nam hiện đang rất cao so với Hàn Quốc và Đài Loan trong những giai đoạn phát triển tương đương. Chẳng hạn như Đài Loan đã duy trì được tốc độ tăng trưởng 9,7% trong suốt 20 năm mà chỉ cần đầu tư 26,2% GDP, trong khi đó, Việt Nam đầu tư tới 33,5% GDP nhưng tốc độ tăng trưởng trung bình cũng chỉ đạt 7,6%. Nói cách khác, cái giá phải trả cho tăng trưởng của Việt Nam cao gần gấp đôi so với Đài Loan.

Theo ông Lâm, câu hỏi thứ hai đưa chúng ta trở về với bối cảnh chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây, trong đó một vấn đề nổi lên hàng đầu là lạm phát. Mặc dù tốc độ tăng trưởng không có sự cải thiện đáng kể nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lại tăng đột biến, từ mức 3 - 4% vào đầu những năm 2000 lên tới 12,6% năm 2007.

Lạm phát hay tăng trưởng?

Diễn biến giá cả ở Việt Nam trong năm 2014 phụ thuộc rất mạnh vào quan điểm và các quyết sách thực hiện lộ trình điều hành giá một số mặt hàng của Nhà nước như điện, than, xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục... Do đó, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều lượng và phân phối về không gian, thời gian một cách hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trên thị trường và tác động xấu tới đời sống người dân.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, hệ lụy của các năm trước trong vấn đề quản lý giá của Việt Nam chính là ngộ nhận lớn về quan niệm của cơ quan độc quyền nhà nước khi coi giá thế giới là giá thị trường và tính giá thị trường bằng chi phí của các doanh nghiệp độc quyền. Điển hình ngay việc điều chỉnh giá điện, EVN cũng nhìn giá điện khu vực để đòi tăng giá, đây chính là sự ngộ nhận suy từ lợi ích nhóm để tăng giá.

Thêm nữa, việc cho doanh nghiệp độc quyền tự định giá và cho rằng đó là quy trình thị trường, trong khi thị trường lại không có cạnh tranh chính là nghịch lý trong quản lý giá của Việt Nam. Đặc biệt, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ "bình ổn thị trường" mà không kèm theo "bình ổn giá" và áp đặt giá sàn là đi ngược bản chất của bình ổn thị trường.

Trong vài năm qua, bài toán quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng luôn được đặt ra: nên ưu tiên cho tăng trưởng hay lạm phát? Thực tế những năm 1996 - 2000 cho thấy Chính phủ hoàn toàn không cần thiết phải lựa chọn một trong hai mục tiêu khi mà lạm phát những năm này chỉ dưới 4% trong khi tăng trưởng GDP đạt mức 8%, tức là tăng trưởng cao không bắt buộc phải kèm theo lạm phát cao.

Ngược lại, lạm phát cao cũng chưa chắc đem lại tăng trưởng cao. Điển hình là lạm phát cao khuyến khích người dân chuyển sang nắm giữ ngoại tệ, vàng, thậm chí hàng hóa để bảo toàn giá trị tài sản của mình. Việc giữ chênh lệch lãi suất VND với ngoại tệ cao để khuyến khích người dân giữ VND thì lại càng không khuyến khích kinh doanh và kết quả là tăng trưởng giảm.

Vẫn theo TS. Nguyễn Minh Phong, với đà tăng trưởng chung của thế giới, chắc chắn chỉ số CPI năm sau sẽ cao hơn năm nay, và mức thấp nhất là 6,5 - 7,5%, thậm chí lên 8%.

Còn chuyên gia kinh tế Phan Thanh Hà cho rằng với mục tiêu năm 2014 là tăng trưởng GDP 5,8% và lạm phát 7% thì tăng trưởng vẫn tiếp tục xu hướng từ những năm 2006 là thấp hơn lạm phát. Theo kế hoạch thì năm 2014, chênh lệch này là 1,2%, gấp đôi năm 2013, tức là thực tế kinh tế chưa được cải thiện, phát triển âm. So với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô thì lạm phát 7% là rất cao. Mục tiêu này cũng rất cao so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Với mức lạm phát 7% thì lãi suất không thể tiếp tục giảm đáng kể, sản xuất kinh doanh khó có điều kiện phục hồi, càng thêm kiệt quệ.

Tăng trưởng là một cuộc đua đường trường

TS. Vũ Thành Tự Anh - Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chưa cao nhưng đã xuất hiện nhiều yếu tố bất ổn. Chạy theo tăng trưởng ngắn hạn có thể thỏa mãn thành tích nhất thời nhưng sẽ không bền vững. Cần nhận thức một cách đúng đắn rằng tăng trưởng là một cuộc đua đường trường, và vì vậy, Chính phủ cần đặt ưu tiên cao nhất cho sự ổn định bằng cách giải quyết những ách tắc cơ bản trong nền kinh tế. Nếu làm được điều này, không những nền kinh tế Việt Nam có thể hiện thực hóa được những tiềm năng to lớn của mình, mà đồng thời sự phát triển cũng trở nên bền vững hơn.

Lạm phát thấp nhưng giá hàng hóa vẫn cao

Ông Vũ Vinh Phú - Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội

Ngay cả lạm phát thấp như hiện nay cũng không làm cho đời sống người dân tốt lên khi mà theo phản ánh, túi tiền của người dân đang bị eo hẹp lại. Chúng ta cứ tự hào vì CPI tăng thấp, nhưng nhìn lại thì thấy hàng hóa vẫn đứng ở mức giá cao, thịt ở các chợ cóc vẫn là 95.000/kg, thậm chí thịt sạch lên tới 105.000/kg. Có thể nói, túi tiền người dân đang bị eo hẹp lại. Đầu vào thì chưa được quản lý chặt, trong khi đó, ở đầu ra, người dân đang bị móc túi. Điển hình như việc giá thành mỗi kg đường mà Hoàng Anh Gia Lai làm tại Lào chỉ 8.000 đồng, trong khi hệ thống siêu thị vẫn bán với giá 22.000 đồng…

Lạm phát thấp là cần thiết

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính)

Tốc độ tăng trưởng GDP tiềm năng tỷ lệ nghịch với mức lạm phát mục tiêu. Do vậy, trong dài hạn, việc giữ tỷ lệ lạm phát ở mức thấp là thực sự cần thiết. Với tỷ lệ tiết kiệm/GDP hiện tại của nền kinh tế Việt Nam vào khoảng 29%, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam chỉ vào khoảng 5,9%. Nếu Việt Nam cố gắng đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn thông qua tăng đầu tư, lạm phát sẽ gia tăng, đồng thời những cải thiện về tăng trưởng cũng chỉ đạt được trong ngắn hạn và không nhiều.

Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức cao hơn và bền vững hơn, chẳng hạn ở mức 6,5%, trước tiên, Việt Nam cần đưa tỷ lệ lạm phát xuống mức thấp hơn nữa, khoảng 2 - 3%. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi nền kinh tế phải trả giá trong ngắn hạn, bởi khi tốc độ tăng đầu tư giảm xuống dưới mức tăng trưởng GDP và tỷ lệ thu/GDP sẽ giảm theo. Vì thế, để nền kinh tế tránh được những cú sốc, tốc độ tăng đầu tư cần được giảm từ từ, chẳng hạn, duy trì ở mức khoảng 4 - 5% mỗi năm trong một thời gian.

Theo thoibaokinhdoanh.vn

Từ khóa: động lực cho tăng trưởng 2014 , tăng trưởng , tái cơ cấu nền kinh tế , tăng trưởng GDP , Quỹ đạo tăng trưởng , hoạt động đầu tư , ICOR , Lạm phát Các tin đã đưa Xu hướng mới của bán lẻ: Mặc cả Muốn sống các doanh nghiệp phải tự cứu mình Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi Từng bước lấy lại đà tăng trưởng Năm 2014: Sản xuất kinh doanh ấm dần 7 điều kiện để trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 5 điều kiện để tổ chức nước ngoài sở hữu từ 10% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam 5 tín hiệu khả quan ngành Ngân hàng đầu năm 2014 Thắng “đậm” nhưng vẫn âu lo Doanh nghiệp phải quản lý công nợ chặt chẽ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết Quy định mới được sửa đổi, bổ sung về thuế Giá trị gia tăng Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Những cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam trong năm 2014 Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS