Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Thứ sáu 28/03/2014 14:10

(Tài chính) Chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật về doanh nghiệp và chứng khoán mà thời gian qua, không ít công ty đại chúng đã bị xử phạt vì những lỗi không đáng có. Hậu quả là không chỉ bị giảm sút uy tín mà doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động như hiện nay.

TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Nguồn: internet

Chưa bị phạt là may!

Đến nay, vẫn còn không ít doanh nghiệp đủ điều kiện là công ty đại chúng nhưng chưa đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Trong khi đó, cũng có không ít công ty đại chúng, kể cả những công ty đang có cổ phiếu giao dịch trên sàn UPCoM không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, hoặc có thực hiện nhưng nửa vời, ví dụ báo cáo tài chính không có thuyết minh, các báo cáo không được lưu trữ đầy đủ trên website của công ty…

Trong nhiều trường hợp, việc vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin là do doanh nghiệp cố tình che giấu thông tin. Nhưng cũng có không ít trường hợp lại bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật, để rồi bị xử phạt vì những lỗi rất sơ đẳng. Cứ xem các quyết định xử phạt của UBCKNN gần đây sẽ thấy, một loạt doanh nghiệp mắc phải lỗi không công bố các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị công ty… đầy đủ và kịp thời.

Pháp luật quy định, công ty đại chúng phải có website để thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và website phải thiết kế một mục dành riêng cho cổ đông hay quan hệ nhà đầu tư. Vậy mà, vẫn có doanh nghiệp bị xử phạt vì website không có chuyên mục này.

Tại Hội nghị “Doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết 2014” do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) phối hợp với UBCKNN tổ chức hôm 26/3 vừa qua tại TP. HCM, nhiều doanh nghiệp đã đặt câu hỏi với đại diện cơ quan quản lý thị trường, để lộ nhiều “lỗ hổng” về kiến thức pháp luật cơ bản đối với doanh nghiệp, mà với những “lỗ hổng” ấy, doanh nghiệp chưa bị phạt… là may!

Đại diện một doanh nghiệp thuỷ điện có 99% vốn Nhà nước, 1% vốn góp của cán bộ nhân viên đã đặt câu hỏi: “Luật pháp quy định, công ty đại chúng buộc phải đăng ký lưu ký tập trung, nhưng chúng tôi thấy làm như thế phiền phức và tốn kém. Hơn nữa, chúng tôi đang tự quản lý cổ đông rất tốt. Chúng tôi không đăng ký công ty đại chúng có được không?”.

Một loạt câu hỏi tương tự cũng được đặt ra, như công ty đang thuê công ty chứng khoán (CTCK) quản lý sổ cổ đông có vi phạm luật không? Quy định hiện hành có bắt buộc công ty đại chúng phải niêm yết, đăng ký giao dịch trên UPCoM không? Công ty có vốn 16 tỷ đồng có bắt buộc phải đăng ký chứng khoán và đăng ký giao dịch không?

Trước những câu hỏi như thế, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN đã thốt lên: “Những câu hỏi mà đại diện các doanh nghiệp đưa ra cho thấy, các doanh nghiệp nắm chưa vững cả Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật về chứng khoán. Vì thế, các doanh nghiệp vi phạm dẫn đến bị xử phạt cũng là lẽ đương nhiên”.

Theo quy định, doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có ít nhất 100 cổ đông thì được xem là công ty đại chúng và đã là công ty đại chúng thì phải đăng ký lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD). Nếu công ty đại chúng thuê CTCK quản lý cổ đông thì cả hai đều sai.

Về quy định tại Luật Doanh nghiệp, có người hỏi: “Cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phiếu trong vòng 5 năm, nếu đại  hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua có phạm luật không?”. Rõ ràng, người hỏi đã không nắm được quy định tại Luật Doanh nghiệp về thời gian hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập là 3 năm, chứ không phải 5 năm.

Ngoài ra, pháp luật quy định việc hạn chế chuyển nhượng, chứ không phải không được chuyển nhượng, bởi trong thời hạn đó, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận.

Trước câu hỏi “Điều lệ công ty cổ phần quy định cổ đông phải nắm giữ một tỷ lệ nhất định mới được tham dự ĐHĐCĐ có vi phạm Luật Doanh nghiệp không?”, ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCKNN giải thích điều này chắc chắn vi phạm.

“Tôi không nghĩ đến giờ này vẫn còn băn khoăn như vậy, bởi nó đã diễn ra cách đây khoảng 4 - 5 năm và trên nhiều phương tiện truyền thông đã nói rất rõ về việc quy định như vậy là trái với Luật Doanh nghiệp”, ông Hải nói.

Lỡ cơ hội vì thiếu hiểu biết

Trước ý kiến lo ngại về việc trong khi có nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật thì vẫn còn một số khác chưa tuân thủ pháp luật sẽ gây nên tình trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, bà Vũ Thị Chân Phương, Vụ Trưởng Vụ Thanh tra, UBCKNN đã khuyến cáo, doanh nghiệp nếu làm sai sẽ dẫn đến bị khiếu kiện, khiếu nại hoặc bị xử phạt, tự đánh mất uy tín của mình.

“Doanh nghiệp đã đủ điều kiện thành công ty đại chúng, nhưng không đăng ký với UBCKNN, từ đó không công bố thông tin định kỳ, không báo cáo, không có website… Đến khi UBCKNN phát hiện thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt cho một loạt các vi phạm đó. Số tiền phạt sẽ là tổng mức phạt cho tất cả các hành vi vi phạm này”, bà Phương cho biết.

Còn theo ông Bùi Hoàng Hải, không có UBCKNN nước nào có đủ năng lực kiểm soát tất cả. “Vừa qua, chúng tôi đã nghiên cứu TTCK Mỹ và thấy rằng, tốt nhất là UBCKNN tập trung xử lý sau khi các vi phạm được phát hiện, chủ yếu là từ các khiếu nại của cổ đông, nhà đầu tư. UBCKNN Việt Nam cũng chỉ có thể xử lý được những doanh nghiệp có đăng ký công ty đại chúng. Nếu công ty đã trở thành đại chúng rồi mà không đăng ký công ty đại chúng thì người giám sát tốt nhất lúc này chính là các cổ đông. Cách mà UBCKNN đang thực hiện là tăng cường phổ biến kiến thức, giúp các cổ đông có thể tự kiểm soát và bảo vệ quyền lợi của mình”, ông Hải nói.

Ông Hải cho biết, nhiều doanh nghiệp trước đây muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn, nhưng chưa làm được, do thị trường không thuận lợi, thì nay khi TTCK khởi sắc hơn đã bắt đầu nộp hồ sơ xin phép chào bán trở lại. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ phải mất 6 tháng mới được cấp phép do dính những lỗi nhỏ, chẳng hạn như nghị quyết ĐHĐCĐ không được hiện đúng luật, không ghi rõ phương án phát hành, thiếu phương án sử dụng vốn, điều lệ có quy định trái với Luật Doanh nghiệp…

“TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch chào bán chứng khoán trở lại. Nhưng nếu doanh nghiệp phải chờ tới 6 tháng nữa hồ sơ phát hành mới được thông qua thì cơ hội tốt nhất sẽ trôi qua. Vì thế, doanh nghiệp nào có ý định chào bán cổ phiếu thì nên làm việc với CTCK tư vấn để chuẩn bị chu đáo mọi hồ sơ ngay từ đầu, tránh trường hợp hồ sơ bị kéo dài quá lâu”, ông Hải khuyến cáo.            

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp đại chúng , doanh nghiệp đại chúng , sử dụng vốn , vốn điều lệ , công ty chứng khoán , cổ đông , Luật Doanh nghiệp , chào bán cổ phiếu Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Thứ sáu 28/03/2014 15:39

(Tài chính) Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nguồn: internet

Từ quý II/2013: Số doanh nghiệp thành lập mới đã tăng trở lại

Điều đáng lưu ý là bắt đầu từ quý II/2013 đến nay, các quý đều có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: quý II/2013 tăng 20,1%, quý III/2013 tăng 18,1%, quý IV/2013 tăng 8%, so với cùng kỳ năm trước.

Tại các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia tăng về số doanh nghiệp thành lập so với cùng kỳ năm 2013: vùng Đồng bằng sông Hồng có 4.942 doanh nghiệp thành lập tăng 10,5%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 746 doanh nghiệp thành lập tăng 35,9%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 2.443 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 974 doanh nghiệp thành lập tăng 133%; vùng Đông Nam Bộ có 7.638 doanh nghiệp thành lập tăng 18,2%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 1.613 doanh nghiệp thành lập tăng 2,5%.

Ngược với xu hướng gia tăng chung của cả nước, một số địa phương vẫn có sự suy giảm về số doanh nghiệp thành lập mới, như: Hải Phòng giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 7,1%; Khánh Hòa giảm 16,6%; Bình Định giảm 36,4%; Sóc Trăng giảm 41,8%; Hậu Giang giảm 42,7%; Cao Bằng giảm 53,8%.

Về lĩnh vực, ngành nghề đăng ký hoạt động, trong quý I/2014 hầu hết đều có sự gia tăng của số doanh nghiệp thành lập mới, đặc biệt, một số ngành có tỷ lệ tăng cao như: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,2%; Kinh doanh bất động sản tăng 22,6%; Thông tin và truyền thông tăng 42,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,4%; Giáo dục và Đào tạo tăng 51,2%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 52,1%; Sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 57,3%.

Số doanh nghiệp khó khăn rơi vào tình trạng ngừng hoạt động trước và trong quý I/2013 quay trở lại hoạt động là 4.622 doanh nghiệp, trong đó tập trung chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng Sông Hồng 1.458 doanh nghiệp (Hà Nội 1.052 doanh nghiệp); vùng Đông Nam Bộ 1.913 doanh nghiệp (Hồ Chí Minh 1.525 doanh nghiệp).

Lĩnh vực có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung nhiều nhất là: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với 1.654 doanh nghiệp.

Quý I/2014, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký là 16.745 doanh nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 3.846 doanh nghiệp, tăng 7,8%; Số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 10.318 doanh nghiệp, tăng 9,3%; Số doanh nghiệp giải thể là 2.581 doanh nghiệp, tăng 13,6%

Ngược với xu hướng tốt lên của doanh nghiệp thành lập mới, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng, như: vùng Đông Nam Bộ tăng 18,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 26,1%.

 Tuy nhiên, một số khu vực được coi là đầu tàu kinh tế đã có xu hướng tốt lên so với cùng kỳ năm 2013 là Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động giảm 3%.

Xem xét các lĩnh vực, ngành nghề doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong quý I/2014, một số ngành có dấu hiệu tốt hơn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm, như: Sản xuất, phân phối điện, nước, gas giảm 5,4%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 14,7%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 33%.

Tuy nhiên, một số ngành, lĩnh vực vẫn có số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng cao như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 52,5%; Giáo dục và đào tạo tăng 27,3%.

Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp dần phát huy tác dụng

Đánh giá về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh là Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, các giải pháp bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy nền kinh tế dần dần vượt qua thời kỳ khó khăn.

Với những chính sách giảm, giãn, hoàn, miễn thuế, phí, lệ phí được ban hành trong năm 2013, thì một số ngành trực tiếp được hưởng lợi từ các chính sách này và có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều trong Quý I năm 2014 như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (1.654 doanh nghiệp); Xây dựng (878 doanh nghiệp); Công nghiệp chế biến, chế tạo (579 doanh nghiệp).

Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, thúc đẩy mặt bằng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên thị trường ngân hàng hạ dần, tác động tích cực đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ sử dụng vốn vay cao là những ngành hưởng lợi nhiều nhất, thể hiện qua số liệu doanh nghiệp tham gia vào các ngành này như: Công nghiệp chế biến và chế tạo (thành lập mới tăng 4 quý liên tiếp), Xây dựng đã tăng 6% trong quý I/2014 so với cùng kỳ năm 2013, trong khi năm 2013 giảm 3,7% so với năm 2012.

Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm so với kế hoạch đã đề ra. Sự chậm trễ trong việc đi vào hoạt động của Công ty Quản lý và khai thác tài sản Việt Nam đã dẫn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị này trong năm 2013 là không rõ nét và vẫn chưa xử lý được vấn đề nợ xấu cũng như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như kỳ vọng đã đặt ra.

Ngành tài chính và ngân hàng vẫn thế hiện tình trạng khó khăn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng tới 58,6% trong năm 2013 so với năm 2012.

Trong Quý I năm 2014, tình hình của khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã có dấu hiệu cải thiện khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 18,9%, ngừng hoạt động, giải thể giảm 14,7%.

Một trong các giải pháp giải quyết hàng tồn kho bất động sản là gói tín dụng 30.000 tỷ hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản và người mua nhà tiếp cận nguồn tín dụng có lải suất thấp, ổn định.

Tuy nhiên, do tiến độ giải ngân của gói tín dụng này quá chậm nên chưa có nhiều tác động hỗ trợ đối với doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dừng hoạt động trong Quý I/ 2014 vẫn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013 (cả năm 2013 tăng 21,9% so với năm 2012)….

Cơ hội đan xen thách thức?

Cuối năm 2013, hầu hết các dự báo về tình hình kinh tế thế giới đều đánh giá tốc độ tăng trưởng năm 2014 sẽ khả quan hơn ở các lĩnh vực và các nền kinh tế. Tuy nhiên, tình hình chính trị bất ổn tại Ukraina và các điểm nóng khác trên thế giới đe dọa đến đà tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đầu năm 2014, đánh dấu lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ và các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Liên bang Nga do căng thăng chính trị tại Ukraina leo thang.

Mặc dù quy mô các biện pháp trừng phạt còn nhỏ, nhưng nếu các bên liên quan không tìm được tiếng nói chung có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa kinh tế mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi chung của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị ứng phó với những khó khăn nảy sinh khi các thị trường xuất khẩu của nước ta như EU, Mỹ, Nga gặp khó khăn.

Tình hình trong nước còn khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ ràng hơn do tình hình kinh tế trong nước đang dần ổn định, cũng như các chính sách kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phát huy tác dụng. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, năm 2014 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,67%-6,3%, chỉ số CPI tăng khoảng 7%-7,5%.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp có những cơ hội sau:

- Sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2014 là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất.

- Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài dự báo sẽ tăng đáng kể trong năm 2014, tạo động lực thúc đẩy đà hồi phục của doanh nghiệp, mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

- Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng do các Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định TPP được Việt Nam ký kết với các nước trên thế giới.

- Lãi suất ngân hàng ở mức hợp lý, giảm gánh nặng chi phí lãi vay của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cũng không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đó là:

- Với việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh chất lượng hàng hóa, quy mô sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước đối tác.

- Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được giải quyết mạnh mẽ, sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt, tiêu dùng nội địa còn yếu là những thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014.

Doanh nghiệp vẫn mong chờ những hỗ trợ

Trong năm 2014, Chính phủ cần tiếp tục các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt sử dụng hàm lượng chất xám, trình độ quản lý cao và giảm dần các ngành tiêu tốn nhiều vốn và lao động nhưng hiệu quả kinh tế thấp.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, trong thời gian tới, Chính phủ vẫn tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công khai, minh bách hóa chính sách, thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh, thông tin doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu.

 Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, cung ứng chuỗi; thu hút, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám; tạo điều kiện, môi trường, chính sách thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.

Đồng thời, đẩy nhanh quá trình giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; khắc phục những yếu kém, tồn tại của thị trường bất động sản như vấn đề hàng tồn kho bất động sản, tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dẫn nhằm củng cố lại niềm tin của người dân; hoàn thiện thị trường chứng khoán theo định hướng trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp.

Triệt để thực hiện lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cổ phần hóa tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

 Ban hành các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng của doanh nghiệp như tăng cường quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa, tình trạng cạnh tranh…

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về những cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong giai đoạn tới. Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: giải thể , quý I , thành lập , doanh nghiệp Việt Nam , nợ xấu , Đồng bằng sông Hồng , Đông Nam Bộ , hàng tồn kho Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu

Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu

Thứ sáu 28/03/2014 16:14

(Tài chính) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phản bác thông tin cho rằng, việc hoãn Thông tư 02 là giúp ngân hàng thương mại đắc lợi, làm chậm quá trình tái cơ cấu.

NHNN khẳng định có đủ công cụ để kiểm soát nợ xấu. Nguồn: internet

Trước thông tin cho rằng, việc ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN (thay thế Thông tư 02/2013/TT-NHNN) về phân loại nợ nợ và trích lập dự phòng rủi ro là giúp ngân hàng che giấu nợ xấu, làm chậm quá trình tái cơ cấu ngân hàng, NHNN đã lên tiếng phản bác.  

NHNN hoãn: ngân hàng mừng, chuyên gia lo lắng

Ngày 18/3 vừa qua, NHNN ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 Quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Một trong những nội dung cơ bản được sửa đổi, bổ sung là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ từ ngày 20/3/2014 đến hết ngày 31/3/2015 và chưa phải thực hiện điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo kết quả tổng hợp phân loại nợ của CIC cho đến hết ngày 31/12/2014.

Phó Chủ tịch Ngân hàng thương mại Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) Nguyễn Đức Hưởng cho rằng, giãn thời gian áp dụng Thông tư 02 về phân loại nợ theo chuẩn mới chính là giúp doanh nghiệp (DN) khỏi sự đổ bể mới, cứu nền kinh tế.

Tuy nhiên, việc thêm một lần trì hoãn thực hiện Thông tư 02 của NHNN lại khiến các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong nước lo ngại, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tiếp tục bị che dấu, làm chậm quá trình tái cơ cấu ngân hàng.

Chuyên gia ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, trì hoãn quá lâu Thông tư 02 sẽ khiến bức tranh nợ xấu bị che mờ, khiến trích lập dự phòng rủi ro không đầy đủ, đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng.

Báo cáo của Công ty chứng khoán Bảo Việt mới đây cũng cho rằng, việc NHNN ban hành Thông tư 09, thay thế Thông tư 02 đã làm niềm tin thị trường bị tổng thương và làm quá trình tái cơ cấu ngân hàng bị chậm lại.

Không có chuyện ngân hàng giấu nợ

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, trong lúc các ngân hàng kinh doanh chật vật như hiện nay, việc tăng trích lập dự phòng rủi ro sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Vì vậy, lùi thực hiện Thông tư 02 "đúng là ân huệ cho ngành ngân hàng". Đây cũng là quan điểm của rất nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế.

Tuy vậy, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (NHNN) khẳng định, để được giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 09, các ngân hàng phải đáp ứng được những điều kiện vô cùng chặt chẽ và không dễ để "lách" hay che dấu nợ.

Cụ thể, Thông tư 09 quy định, để được giữ nguyên nhóm nợ, phải là những khoản nợ mà việc cấp tín dụng không vi phạm các quy định của pháp luật; phù hợp với mục đích của dự án vay vốn trong hợp đồng tín dụng; khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích; khách hàng có phương án trả nợ mới khả thi, phù hợp với diều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ chỉ được thực hiện 01 lần...

Đồng thời, Thông tư 09 yêu cầu tổ chức tín dụng phải đảm bảo đã ban hành quy định nội bộ để kiểm soát, giám sát đối với nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, đảm bảo kiểm tra, giám sát chặt chẽ, an toàn, phòng ngừa và ngăn chặn việc lợi dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ để phản ánh sai lệch chất lượng tín dụng.  

Như vậy, so với quy định tại Quyết định số 780/QĐ-NHNN về phân loại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (NHNN) khẳng định, các điều kiện quy định tại Thông tư 09 trên đây được nhiều tổ chức tín dụng đánh giá là quá chặt chẽ, không còn ”cửa hẹp để lách” và từ đó, trong thời gian ngắn sắp tới sẽ nợ xấu được phản ánh đầy đủ, đúng thực trạng.

Tuy nhiên, tổ chức tín dụng có thể chưa phải trích ngay số tiền dự phòng rủi ro cho những khoản nợ được cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, sẽ có thêm điều kiện về nguồn vốn để cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh. Tuy vậy, thời gian tới, chắc chắn các tổ chức tín dụng sẽ phải trích bổ sung dự phòng rủi ro và phải hạch toán vào chi phí hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành.

Không làm chậm quá trình tái cơ cấu

Việc NHNN sửa đổi Thông tư 02 khiến nhiều người cho rằng, lộ trình tái cơ cấu ngân hàng của NHNN sẽ bị chậm lại.

Tuy nhiên, lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng thương mại cổ phần lớn cho rằng:  “Thông tư 09 của Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn phù hợp với điều kiện hiện nay của nền kinh tế, không hề làm chậm mà thậm chí còn tạo nên sức ép phải đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại ngân hàng”.    

Trong khi đó, Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng khẳng định, tuy sửa đổi Thông tư 02, song NHNN vẫn yêu cầu các ngân hàng thương mại phải rà soát, đánh giá chất lượng tín dụng, tình hình nợ xấu theo tiêu chí quy định tại Thông tư 02 để xây dựng, báo cáo NHNN kế hoạch bán nợ xấu trong năm 2014 và kế hoạch bán nợ xấu cụ thể từng tháng cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

NHNN sẽ áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật đối với tổ chức tín dụng không xây dựng, báo cáo NHNN kế hoạch bán nợ xấu cho VAMC hoặc không bán, chậm bán nợ xấu theo kế hoạch đã báo cáo NHNN. 

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục thực hiện công tác hoàn thiện thể chế, trong đó có việc ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2013 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NHNNg.

Theo đó, NHNN bổ sung quy định về việc xử lý đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh NHNNg có giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp giảm thấp hơn mức vốn pháp định và một trong các chế tài xử lý là yêu cầu cổ đông, chủ sở hữu phải góp bổ sung vốn, hạn chế một số hoạt động hoặc hạn chế việc mở rộng địa bàn hoạt động (mở chi nhánh),…

Các ngân hàng có vốn điều lệ hoặc được cấp giảm thấp hơn mức vốn pháp định dẫn đến vi phạm các tỷ lệ bảo đảm an toàn thì sẽ bị xử lý theo đúng quy định pháp luật đối với từng trường hợp cụ thể.

 Với các giải pháp đồng bộ nêu trên, NHNN khẳng định đã có đủ công cụ, biện pháp và đã hoàn toàn kiểm soát được chất lượng tín dụng, nợ xấu của từng tổ chức tín dụng và của cả hệ thống. Cùng với sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành liên quan, tiến độ xử lý nợ xấu, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng chắc chắn sẽ được thực hiện đúng tiến độ, hiệu quả.

Theo baodautu.vn

Từ khóa: thông tư , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , nợ xấu , tái cơ cấu , ngân hàng , tổ chức tín dụng , chi nhánh , tín dụng Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán

Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán

Thứ sáu 28/03/2014 13:41

(Tài chính) Đó là nhận xét của ông Oh Kyung Hee, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán (CTCK) KIS Việt Nam, trong bối cảnh lãi suất giảm, thời hạn phân loại nợ của các tổ chức tín dụng được lùi đến ngày 1/4/2015…

Phóng viên: Rót tiền vào chứng khoán, bất động sản lúc này có rủi ro như thế nào, theo ông?


Ông Oh Kyung Hee,
Tổng giám đốc CTCK KIS Ông Oh Kyung Hee: Kênh đầu tư chứng khoán hiện nay đang thu hút nhà đầu tư (NĐT), nhiều NĐT cũ đã rời thị trường giai đoạn 2011 - 2012 nay đã quay trở lại. So với kênh gửi tiết kiệm thì chứng khoán và bất động sản có độ rủi ro cao hơn, nhưng được bù đắp bởi tỷ suất lợi nhuận tốt hơn.

Khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK), các NĐT có nhiều lựa chọn, với tỷ suất sinh lời tương ứng mức độ chấp nhận rủi ro. Ngoài ra, các NĐT có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách tham khảo tư vấn của các chuyên viên môi giới, hoặc tham khảo báo cáo phân tích của CTCK trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

Lãi suất tiết kiệm giảm có khiến nguồn tiền chảy vào chứng khoán, bất động sản?

Điều này tùy thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro và kinh nghiệm đầu tư ở các kênh đầu tư khác. Đa phần NĐT chọn hình thức gửi tiết kiệm lâu dài đều ngại rủi ro hoặc ít có kinh nghiệm trong các kênh đầu tư khác như chứng khoán hay bất động sản. Do đó, trước việc lãi suất tiết kiệm giảm xuống thấp như hiện nay, họ thường xem xét lãi suất của ngân hàng nào cao nhất và chuyển sang gửi ở đó. Ngược lại, đối với các NĐT chấp nhận rủi ro và có kinh nghiệm ở các kênh đầu tư khác thì khó có thể chấp nhận mức lãi suất tiết kiệm thấp.

Thông tư số 05/2014/TT-NHNN vừa được NHNN ban hành có quy định hạn chế vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) gửi tiết kiệm. Theo ông, quy định này liệu có ảnh hưởng đến dòng vốn FII vào Việt Nam?

Thông tư số 05 quy định, vốn FII vào Việt Nam chỉ được thực hiện bằng VND và điểm đáng chú ý là số dư trên tài khoản vốn đầu tư gián tiếp của NĐT nước ngoài có thể được chuyển sang thanh toán bằng tiền đồng, nhưng không được chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng.

Tôi nhận thấy, phần lớn nguồn vốn FII vào Việt Nam thời gian qua chủ yếu đổ vào thị trường cổ phiếu, trái phiếu hoặc các loại hình đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao khác thông qua các quỹ đầu tư. Trong khi chờ giải ngân vào các dự án đầu tư, các quỹ đầu tư này thường để lượng tiền mặt nhàn rỗi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, nhưng kỳ hạn gửi chủ yếu là ngắn hạn, nhằm tối đa lợi nhuận, chứ không kỳ vọng lãi suất. Vì thế, tôi cho rằng, Thông tư 05 sẽ không ảnh hưởng nhiều đến dòng vốn FII vào Việt Nam. Bởi việc thu hút dòng vốn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố vĩ mô khác. Mặt khác, lãi suất tiết kiệm hiện nay đã giảm xuống mức khá thấp.

Có nghĩa là dòng vốn FII sẽ tiếp tục hướng vào Việt Nam?

Hiện TTCK Việt Nam vẫn thu hút NĐT nước ngoài. Trong 3 tháng đầu năm, các NĐT nước ngoài mua ròng gần 2.300 tỷ đồng, tương đương 108 triệu USD, so với tổng lượng mua ròng xấp xỉ 323 triệu USD năm 2013. Từ đầu năm đến nay, VN-Index tăng khoảng 20%, HNX Index tăng khoảng 30%, so với các thị trường khác trong khu vực thì đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng.

TTCK thời gian qua được hỗ trợ bởi các yếu tố như: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hạ lãi suất điều hành, hạ trần lãi suất huy động, khuyến khích các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng… Trong khi đó, quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các chỉ tiêu tài chính và tiền tệ được cải thiện đã hỗ trợ tâm lý đầu tư.

Ngoài ra, NHNN đẩy mạnh cung tiền ra thị trường một cách gián tiếp thông qua trái phiếu VAMC phát hành. Bên cạnh đó, Hiệp định TPP kỳ vọng được ký kết trong năm nay, tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư. Tỷ trọng xuất khẩu sang 5 nước thành viên của TPP dự kiến được miễn thuế gồm: Mỹ, Canada, Mexico, Chile, Peru chiếm 22% kim ngạch xuất khẩu, nên Việt Nam sẽ hưởng lợi từ các quốc gia này nhiều hơn so với từ các nước thành viên khác.

Xin cho biết dự báo của ông về TTCK Việt Nam trong ngắn hạn?

Tôi nhận thấy, xu hướng TTCK Việt Nam trong ngắn hạn vẫn khá tích cực. Một trong những thông tin hỗ trợ mạnh cho thị trường là NHNN đã ban hành Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Tâm điểm của Thông tư 09 là việc lùi thời hạn phân loại nợ đến ngày 1/4/2015, qua đó cho phép các ngân hàng có thêm thời gian để tiến hành xử lý nợ xấu, làm giảm áp lực gia tăng trích lập dự phòng trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng.

Vậy theo ông, lúc này, NĐT nên chọn danh mục cổ phiếu đầu tư như thế nào?

Để hạn chế rủi ro, nhưng duy trì được lợi nhuận phù hợp, các NĐT nên tăng tỷ trọng danh mục đầu tư vào các mã blue-chip có kết quả kinh doanh tốt, tiềm năng tăng trưởng cao; hạn chế giải ngân vào các mã thị giá thấp, đầu cơ, lướt sóng.

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: tổ chức tín dụng , lãi suất , chứng khoán , bất động sản , nhà đầu tư , chính sách tiền tệ , Thông tư số 05/2014/TT-NHNN , kết quả kinh doanh , tiềm năng tăng trưởng Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ sáu 28/03/2014 14:02

ThS. LÊ MINH LOAN

(Tài chính) “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng” – Thông điệp này liên tục được Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định trong suốt thời gian qua.

Hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức. Nguồn: internet

Linh hoạt đổi mới phương thức điều hành

Từ cuối năm 2011 đến nay, trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và diễn biến kinh tế vĩ mô từng năm, NHNN đã xác định nhiệm vụ trọng tâm và kiên trì theo mục tiêu xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, NHNN đặt trọng tâm vào các giải pháp cụ thể sau:

Một là, điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống;

Hai là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam; hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng, từng bước sắp xếp và đổi mới căn bản thị trường vàng;

Ba là, tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng; triển khai đồng bộ và quyết liệt Đề án tái cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 và thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu.

Đồng thời với đó là đổi mới phương thức điều hành theo hướng điều hành linh hoạt, chủ động dẫn dắt, định hướng thị trường; Kết hợp hài hòa giữa điều hành khối lượng với điều hành giá cả; Phối hợp uyển chuyển giữa các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo bơm và hút tiền linh hoạt với điều kiện thị trường nhưng vẫn ổn định được tỷ giá.

Với việc linh hoạt đổi mới phương thức điều hành, NHNN đã góp phần vào tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Lạm phát bền vững giảm từ 18,13% (năm 2011) xuống còn 6,81% (năm 2012) và duy trì ổn định mức 6-7% (năm 2013 và đầu năm 2014).

Thị trường tiền tệ sau khi biến động và đầy rủi ro đến nay, đã dần ổn định và được cải thiện. Mức tăng tổng phương tiện thanh toán đã thấp hơn nhiều so với trước. Lượng tiền cung ứng phù hợp đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn hoạt động và thanh khoản cho hệ thống TCTD. Nguy cơ đổ vỡ hệ thống theo đó được đẩy lùi, kỷ luật thị trường cũng dần được thiết lập.

Mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh, chỉ trong vòng hai năm, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm từ mức 20-25%/năm về bằng mức lãi suất trong giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay tính đến cuối năm 2013, phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên 7-9%; Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác là 9-11%/năm. Đặc biệt, trong nửa cuối năm 2013, NHNN đã cho phép các TCTD thỏa thuận đối với lãi suất huy động bằng VND kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Việc làm này cho thấy hệ thống NHNN đã rất nỗ lực chia sẻ, hỗ trợ, tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng sản xuất kinh doanh.

Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tăng cường trong quản lý thị trường ngoại hối, đã góp phần cải thiện và nâng cao niềm tin vào VND, hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Những rào cản phía trước

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực nhưng trước những dự báo nền kinh tế thế giới sẽ còn nhiều khó khăn và đầy biến động, hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức, cụ thể như: Kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu tích cực song còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa ổn định vững chắc; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào cầu nước ngoài; sức mua trong nước yếu; lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại.

Bên cạnh đó, dòng vốn vẫn “tắc nghẽn” trong hệ thống ngân hàng, nợ xấu lại ở mức cao; Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng diễn ra chậm; Tiến trình xử lý nợ xấu phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường. Đặc biệt là về tín dụng, tuy đã được cải thiện song mức tăng trưởng vẫn thấp cho dù NHNN đã rất quyết liệt trong việc linh hoạt, đổi mới phương thức điều hành để đẩy mạnh tín dụng trong mấy năm qua.

Nguyên nhân khiến tín dụng tăng thấp là do sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu yếu, vốn khả dụng của các TCTD luôn dư thừa, mặt bằng lãi suất giảm mạnh, hàng tồn kho tăng cao cho nên nhu cầu vay vốn là rất thấp. Điều này được thể hiện rõ ràng qua các Hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố thời gian qua. Số lượng doanh nghiệp tiếp cận được tới vốn vay là rất ít. Có rất nhiều doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng không vay được vốn, không đáp ứng đủ điều kiện vay vốn do tình hình tài chính yếu kém, báo cáo tài chính không rõ ràng, nợ đọng ngân sách lớn…

Hiện nay, cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng tuy đã có song được thực hiện không nhiều bởi sức cầu của thị trường yếu, tồn kho vẫn là mối lo ngại của doanh nghiệp. Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, có tới 73% phản hồi cho rằng hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại của doanh nghiệp. Điều đó cũng khiến các TCTD thận trọng hơn khi cho vay… Như vậy, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không còn là nhiệm vụ mà ngành Ngân hàng có thể tự thân giải quyết, mà cần tới sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cần có sự phối hợp của liên ngành, khi đó mới có thể giải quyết căn bản những yếu kém, nâng cao nội lực kinh tế, nắn dòng vốn đến từng lĩnh vực và thành phần kinh tế hiệu quả.

Giải pháp điều hành hiệu quả

Trước bối cảnh nền kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến khó lường, Chính phủ tiếp tục kiên trì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời quyết liệt thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường, giải quyết nợ xấu, hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh. Trên tinh thần đó, NHNN đã định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động cho năm 2014 và những năm tiếp theo là tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ. Chủ động điều hành linh hoạt tiền cung ứng và các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo thanh khoản và hỗ trợ nguồn vốn tín dụng phục vụ nền kinh tế. Đồng thời, điều hành lãi suất phù hợp và điều tiết lãi suất, góp phần ổn định thị trường, tháo gỡ khó khăn cho thị trường, hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý.

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp xử lý nợ xấu theo Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD ban hành kèm theo Quyết định 843/QĐ-TTg; Tạo khuôn khổ pháp lý cho VAMC, đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu; Điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định giá trị VND; Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối; Bình ổn thị trường vàng, chống “vàng hóa” nền kinh tế. Đặc biệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại các TCTD, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các TCTD hoạt động an toàn và lành mạnh.

Ngoài ra, tiếp tục tính toán và xây dựng các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ để đối phó với khả năng lạm phát tăng cao trở lại khi cầu phục hồi và giá cả các mặt hàng Nhà nước quản lý tiếp tục thực hiện lộ trình tăng giá; Nâng cao chất lượng dự báo thống kê tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và ứng phó kịp thời trước những biến động của nền kinh tế.

Năm 2014, trong khuôn khổ triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, NHNN kiên trì, tiếp tục điều hành hiệu quả chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để đạt mục tiêu đặt ra; Củng cố những kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2012-2013 về kiềm chế lạm phát (mục tiêu là 5-7%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; Duy trì sự ổn định các thị trường tiền tệ, ngoại hối, tỷ giá và vàng. Đẩy mạnh các giải pháp cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu theo đúng lộ trình; Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các TCTD.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 3 - 2014

Từ khóa: chính sách tiền tệ , kinh tế vĩ mô , điều hành , nợ xấu , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , lạm phát , sản xuất kinh doanh , lãi suất Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS