DATC - Tiếp tục vượt khó thành công

DATC - Tiếp tục vượt khó thành công

Thứ hai 03/02/2014 15:00

PV.

(Tài chính) Vượt qua vô vàn thách thức trong năm qua, Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) đã gặt hái được nhiều kết quả hết sức ấn tượng và sẵn sàng tâm thế bước vào năm 2014 với nhiều dự định và kỳ vọng. Trao đổi với phóng viên Tài chính & Đầu tư trong không khí đầu Xuân, ông Phạm Thanh Quang – Tổng giám đốc Công ty đã chia sẻ về thành quả và những dự định cho năm mới.

Phóng viên: Năm 2013 đầy sóng gió với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã khép lại nhưng với DATC lại tiếp tục là một năm gặt hái thêm nhiều thành công. Ông có thể chia sẻ về những kết quả vượt khó của Công ty?


Ông Phạm Thanh Quang, Tổng giám đốc Công ty DATC
Ông Phạm Thanh Quang: Năm 2013 tiếp tục có nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam nói chung và DATC nói riêng. Bên cạnh đó là những vướng mắc về cơ chế chính sách liên trực tiếp quan đến DATC như: xử lý nợ, tái cơ cấu DN chưa được tháo gỡ kịp thời như xóa nợ đối với DN không âm vốn chủ sở hữu, không được điều chỉnh lãi suất linh hoạt, không được thoái vốn dưới mệnh giá… đã phần nào ảnh hưởng đến hoạt động của Công ty.

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường sóng gió vừa qua, chúng tôi đã vượt qua được thách thức bằng tinh thần nỗ lực, đoàn kết cùng sự động viên, chỉ đạo sát sao từ lãnh đạo Bộ Tài chính, để mang lại những kết quả tích cực trên nhiều “mặt trận”.

Tổng doanh thu năm 2013 của Công ty ước đạt 530 tỷ đồng, đạt 102% so với kế hoạch năm 2013, tăng 7% so với thực hiện năm 2012. Trong đó: Doanh thu từ hoạt động mua bán nợ ước đạt 326,8 tỷ đồng, đạt 89% so với kế hoạch năm 2013, tăng gấp 1,7 lần so với thực hiện năm 2012; Doanh thu từ hoạt động xử lý tài sản và thu hồi nợ loại trừ đã tiếp nhận ước đạt 15,1 tỷ đồng, đạt 151% so với kế hoạch năm 2013; Doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu khác đạt 188 tỷ đồng, đạt 132,5% so với kế hoạch năm 2013. Với kết quả trên đã mang lại lợi nhuận trước thuế cho Công ty khoảng 157 tỷ đồng, đạt 105% so với kế hoạch.

Năm qua, Công ty đã ký được 15 hợp đồng mua bán nợ, giá trị các khoản nợ là 1.793 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 537 tỷ đồng (tỷ lệ mua nợ bình quân là 30%), đạt 101% so với kế hoạch năm 2013, tăng gấp 2 lần so với thực hiện năm 2012. Doanh thu từ hoạt động mua bán nợ đạt 326,8 tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần so với thực hiện năm 2012.

Thông qua hoạt động mua bán nợ, xử lý tài chính, tái cơ cấu DN, chuyển nợ thành vốn góp cổ phần, năm 2013 Công ty đã tái cơ cấu thành công được 9 DN khách nợ, bao gồm: Tái cơ cấu chuyển đổi 5 DNNN thành công ty cổ phần (trong đó có tái cơ cấu chuyển đổi Tổng công ty Dâu tằm tơ Việt Nam thành Công ty cổ phần - Tổng Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam) và tái cơ cấu được 4 Công ty cổ phần có tiềm năng phát triển trên thị trường.

Một “điểm sáng” nữa đã được DATC “thắp lên” là sự kiện phát hành thành công trái phiếu quốc tế. Ông nhìn nhận sự kiện này như thế nào?

Sự kiện ngày 11/10/2013, trái phiếu quốc tế của DATC chính thức niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) huy động thành công trên 626 triệu USD để xử lý nợ nước ngoài đã đánh dấu bước ngoặt hết sức quan trọng và có ý nghĩa đối với Việt Nam cũng như DATC.

Điều đặc biệt ý nghĩa là trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn, các thị trường chứng khoán, trái phiếu cũng như niềm tin của nhà đầu tư vào DN giảm sút nhưng giới đầu tư vẫn đánh giá cao khả năng của DATC để đầu tư. Điều này chứng tỏ, dù kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đặt nhiều niềm tin, kỳ vọng vào nền kinh tế Việt Nam nói chung và với DATC nói riêng.

Có thể nói, nền kinh tế càng khó khăn thì nợ xấu càng diễn biến phức tạp nhưng đây cũng là cơ hội cho DATC đẩy mạnh hoạt động. DATC đã nắm bắt cơ hội này như thế nào, thưa ông?

Tôn chỉ hoạt động của chúng tôi là luôn đề cao tính sáng tạo trong xử lý nợ, triển khai nhiều giải pháp không chỉ hỗ trợ DN vượt qua khó khăn về tài chính mà tham gia tái cơ cấu về quản trị, nhân lực, định hướng hoạt động để đi đến thành công. Trong hoạt động tái cơ cấu DN, DATC chủ động tìm kiếm, tiếp cận những DN yếu kém, mất khả năng thanh toán để tham gia hỗ trợ xử lý nợ.

Với tôn chỉ đó, năm qua chúng tôi đã tiếp tục thực hiện xử lý nợ gắn với tái cơ cấu thành công nhiều đơn vị, điển hình như: Công ty cổ phần (CTCP) Nhựa Tân Hóa, CTCP Vitaly, CTCP nạo vét đường biển 2... Ghi nhận tại các DN được DATC xử lý nợ, tái cơ cấu cho thấy, hầu hết đều có chuyển biến tích cực chỉ sau một thời gian ngắn.

Một vấn đề được dư luận quan tâm nhiều thời gian gần đây, đó là sự tham gia rất tích cực và hiệu quả của DATC vào xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các DN thuộc Vinashin. Xin ông cho biết cụ thể hơn về hoạt động này?

Trong năm 2013, DATC đã phối hợp chặt chẽ với Vinashin để đàm phán thành công với các chủ nợ nước ngoài trong công tác xử lý nợ xấu. Kết quả mang lại là DATC đã thực hiện phát hành, niêm yết thành công trái phiếu của mình trên thị trường chứng khoán Singapore để xử lý khoản nợ nước ngoài của Vinashin là trên 626 triệu USD.

Cùng với sự thành công trên thị trường quốc tế, tại thị trường trong nước DATC cũng đã gặt hái được thành công vang dội khi huy động được gần 3.575,7 tỷ đồng qua phát hành trái phiếu trong nước phục vụ cho xử lý 17,5 ngàn tỷ đồng của Vinashin nợ tại 19 tổ chức tín dụng trong nước. Sự kiện này đã tạo tiếng vang lớn, tiếp thêm động lực cho DATC vững tin xử lý nợ xấu, tái cơ cấu DN Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Bên cạnh đó, DATC đã phối hợp với Vinashin để tiến hành rà soát, đánh giá hơn 200 DN có vốn góp của Vinashin bao gồm các công ty TNHH MTV, công ty cổ phần có vốn góp của Vinashin, DATC đang tiến hành rà soát, đánh giá và làm việc trực tiếp với từng DN để lựa chọn các DN đủ điều kiện tái cơ cấu. Ngoài ra, DATC đã thành lập phòng mua bán nợ 2, chịu trách nhiệm thực hiện tái cơ cấu, làm việc trực tiếp, điều phối hoạt động của các đơn vị, các trung tâm, chi nhánh của DATC trong việc tham gia mua bán nợ và tái cơ cấu các DN của Vinashin.

Dự báo năm 2014, kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn, đây cũng là năm xử lý nợ xấu, tái cơ cấu DN phải bước vào “chặng nước rút”. DATC đã có kế hoạch gì để ứng phó, thưa ông?

Để nâng cao năng lực hoạt động nhằm tham gia tích tực vào hoạt động xử lý nợ gắn với tái cơ cấu DN, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty. DATC đã xây dựng đề án tái cơ cấu DATC theo hướng nâng cao năng lực hoạt động, năng lực tài chính và chuyển đổi mô hình thành Tổng công ty xử lý nợ Việt Nam, đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính rà soát, tháo gỡ các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động của DATC nhằm tạo cơ chế cho DATC hoạt động hiệu quả nhất.

Xin cảm ơn ông!

Bài đăng trên Tài chính & Đầu tư số 1+2 – 2013

Từ khóa: Tài chính & Đầu tư , DATC , lãi suất , thoái vốn , doanh thu , tài chính , lợi nhuận trước thuế , trái phiếu quốc tế , nợ xấu , tái cơ cấu Các tin đã đưa 2014: Thời thế tạo anh hùng Bảo hiểm hàng không: Đã thấy cơ hội lớn Nan giải bài toán “tan băng” tín dụng Cơ cấu lại nợ: Không che giấu nợ xấu Thủ tướng phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội” Vnsteel nộp ngân sách nhà nước 2.445 tỷ đồng Nhiều vấn đề nhạy cảm của ngân hàng sẽ được "lột tả" Năm 2014 - năm khó khăn đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước sẽ không được duy trì nợ xấu "khủng" Doanh nghiệp dân doanh cũng phải tái cơ cấu Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Giải pháp tài chính tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô Ngành Thuế: Tạo động lực quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ thu 2014 Tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2014 (*) EU muốn tạo thêm việc làm trong lĩnh vực kỹ thuật số 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Thành công từ góc nhìn đa chiều

Điều hành chính sách tiền tệ:

Thành công từ góc nhìn đa chiều

Thứ năm 30/01/2014 14:00

PGS.,TS. NGUYỄN ĐẮC HƯNG

(Tài chính) Trong năm 2013, ngoài việc phải thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung thì chính sách tiền tệ và hoạt động quản lý hệ thống ngân hàng có nhiều vấn đề “nóng” liên quan đến lãi suất, tỷ giá, xử lý nợ xấu và tăng trưởng tín dụng, thị trường vàng, cơ cấu lại ngân hàng thương mại... Tuy nhiên, các vấn đề đã được xử lý kịp thời, hiệu quả.

Thực hiện thành công mục tiêu cao nhất

Mục tiêu kinh tế vĩ mô về mặt lý thuyết và thực tiễn là mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ (CSTT). Có thể khẳng định, trong năm 2013, đây là thành công đầu tiên và thấy rõ nhất đó là ổn định tiền tệ, trên cả hai góc độ: ổn định giá trị đối nội, tức là kiềm chế chỉ số CPI (thường được coi là lạm phát); ổn định giá trị đối ngoại, tức là tỷ giá. Thành công tiếp theo là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; Và cuối cùng là góp phần giải quyết an sinh xã hội, góp phần tạo việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, đáp ứng vốn tín dụng ngân hàng cho các chương trình chính sách...

Mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 7% cả năm 2013 rõràng là đạt được thành công ngoài dự kiến. CSTT cũng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, GDP tăng 5,42%; góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

Ổn định thị trường vàng

Trong năm 2013, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết liệt triển khai các giải pháp đồng bộ về quản lý thị trường vàng. Theo đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện tất toán toàn bộ số dư huy động vốn bằng vàng đến hạn phải chi trả từ đầu tháng 7/2013; giảm dần số dư cho vay vốn bằng vàng nên đã loại bỏ toàn bộ rủi ro liên quan đến vàng và chấm dứt tình trạng “vàng hóa” trong hoạt động của TCTD.

Cùng với đó, NHNN đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các TCTD, DN kinh doanh mua, bán vàng, bình ổn thị trường thông qua đấu thầu vàng, sản xuất vàng miếng SJC để đáp ứng nhu cầu thị trường, thiết lập một mạng lưới mua, bán vàng miếng mới, có tổ chức, quản lý chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận mua, bán vàng.

Thực hiện thắng lợi mục tiêu trung gian

Lãi suất tiền gửi và cho vay giảm dần: Trong năm 2013, mặt bằng lãi suất giảm về bằng lãi suất của của gần 10 năm trước, xoay quanh mức 6-8%/năm đối với lãi suất huy động và 8-11%/năm đối với lãi suất cho vay. Lãi suất tiền gửi USD cũng giảm mạnh, xoay quanh mức dưới 2%/năm và lãi suất cho vay USD cũng về mặt bằng trước đây, phù hợp với mục tiêu điều hành CSTT của NHNN

Tỷ giá diễn biến ổn định: Trong năm 2013, tỷ giá VND/USD tăng 1,2% so với năm 2012. Thị trường ngoại hối về cơ bản ổn định, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng được cải thiện rõrệt so với một số năm gần đây. Đến cuối năm 2013, tỷ lệ gửi ngoại tệ so với tổng phương tiện thanh toán tiếp tục giảm, còn khoảng 12% (so với mức cuối năm 2011 đang là 15,8%, cuối năm 2012 đang là 12,36%). Dự trữ ngoại hối Nhà nước tăng gấp hơn hai lần so với cuối năm 2011.

Tập trung giải quyết nợ xấu của hệ thống: Trong năm 2013, hệ thống ngân hàng thực hiện đồng bộ và tổng hợp nhiều giải pháp xử lý nợ xấu. Ước tính số nợ xấu đã được xử lý trong năm 2012 và năm 2013 đạt khoảng 110.000 tỷ đồng.

Chính thức bắt đầu mua nợ xấu từ 1/10/2013, đến cuối năm 2013, Công ty quản lý tài sản (VAMC) đã xử lý được gần 30.000 tỷ đồng dư nợ gốc của 26 tổ chức tín dụng. Các TCTD đã cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ đến hết tháng 12/2013 cũng khoảng 316.800 tỷ đồng nợ cho khách hàng, chiếm hơn 10% tổng dư nợ tín dụng. Trong đó có 60% các khoản vay nếu không được cơ cấu đã thành nợ xấu. Nói một cách khác, nếu không làm, nợ xấu của hệ thống đã tăng thêm 6%.

Tái cơ cấu các TCTD theo đúng lộ trình: Tính đến hết năm 2013, đã có 8 trong tổng số 9 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) thuộc diện yếu kém đã hoàn thành bước đầu lộ trình tái cơ cấu. Phương án cơ cấu lại của 8/9 ngân hàng đều được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, NHNN chưa phải áp dụng biện pháp can thiệp bắt buộc nào. Đến hết năm 2013, sau gần 2 năm tái cơ cấu thông qua sáp nhập, hợp nhất, giải thể, hệ thống đã giảm 6 TCTD, bao gồm: 4 NHTMCP và 2 TCTD phi ngân hàng.

Hoạt động của các TCTD ổn định: Lợi nhuận của toàn hệ thống các TCTD lũy kế đến hết tháng 11/2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm 2012. Tuy nhiên, nếu so sánh với các năm 2010, 2011, thì lợi nhuận lũy kế năm 2013 chỉ bằng 53-64%. Đặc biệt, có tới 17% các TCTD lỗ trong năm 2013 (bên cạnh 100 TCTD có lãi).

Nhìn chung, trên 50% số TCTD trong năm 2013 giảm lợi nhuận so với năm 2012. Tình hình đó phản ánh sát thực tế môi trường hoạt động kinh doanh ngân hàng trong năm 2013. Đó là các TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro tăng lên nên dẫn đến lợi nhuận giảm hoặc thua lỗ; do giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng trong khi vẫn phải trả lãi tiền gửi cao cho khách hàng nên thu nhập giảm. Đó là chưa kể tất cả các NHTM đều tiết giảm chi phí, giảm chi lương và chi thường, thu hẹp các phòng giao dịch và chi nhánh hoạt động thua lỗ…

Mặc dù vậy, năm 2013 cũng đánh dấu năng lực tài chính của cả hệ thống các TCTD được nâng cao. Tính chung, trong 11 tháng đầu năm 2013, vốn điều lệ của toàn hệ thống các TCTD tăng 6,65% so với cuối năm 2012, tương đương với mức tăng 25.800 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu tăng thêm 43.500 tỷ đồng. Đến cuối năm 2013, một số hệ số phản ánh hiệu quả kinh doanh ROA, ROE cũng chưa được cải thiện, đều giảm so với năm ngoái khi chỉ đạt lần lượt 0,53% và 5,6%.

Kết quả mục tiêu hoạt động

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đối với VND năm 2012 nếu còn ở mức 18 – 22%/năm cho hầu hết các kỳ hạn thì từ năm 2013 (đặc biệt về cuối năm) đã có xu hướng giảm. Giữa năm 2013, giao dịch qua đêm dao động quanh mức 4%/năm nhưng đến cuối năm giảm còn 2,5 – 2,8%/năm. Tương tự, lãi suất ngoại tệ cũng ổn định trong phạm vi điều hành CSTT của NHNN. Thanh khoản của nhiều NHTM từ mức khủng hoảng đã ổn định trong năm 2013.

Các chỉ tiêu chủ yếu hoạt động ngân hàng có mức tăng trưởng khá. Ước tính đến hết năm 2013, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD tăng khoảng 16% so với cuối năm 2012, tổng dư nợ cho vay ước tính tăng 9% so với đầu năm. Các DN, khách hàng nói chung không còn than phiền, kêu ca về lãi suất vay vốn nhiều như trước đây.

Tổng phương tiện thanh toán tiếp tục tăng ở mức phù hợp với mục tiêu định hướng 14-16% đặt ra từ đầu năm, đến hết năm 2013, ước tính tăng 15% so với cuối năm 2012; huy động vốn tăng 15,61%, trong đó bằng ngoại tệ tăng 13,7%, bằng VND tăng khá cao 15,93% so với cuối năm 2012.

Các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác

Điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng đã góp phần quan trọng đạt được các mục tiêu kinh tễ vĩ mô khác:

Nhập siêu đã giảm: Giảm nhập siêu không phải là mục tiêu trực tiếp của CSTT nhưng phải thực sự thừa nhận, nhập siêu trong 3 năm gần đây giảm mạnh có nguyên nhân hàng đầu là điều hành tỷ giá, lãi suất ngoại tệ và thực thi các biện pháp quản lý ngoại tệ, quản lý thị trường vàng có hiệu quả.

Tăng cường quỹ dựtrữ ngoại tệ quốc gia gắn liền với việc trung hòa lượng nội tệ đưa ra mua USD: Tỷ giá ổn định, nhập siêu giảm mạnh, cần phải phân tích trong bối cảnh quỹ dự trữ ngoại tệ quốc gia được tăng cường, từ mức 7 tỷ USD lên khoảng 32 tỷ USD hiện nay. Việc mua ngoại tệ vào đồng nghĩa với việc cung ứng VND ra lưu thông nhưng gây nên lạm phát tiền tệ. Thực tế này hoàn toàn được lý giải qua sự phối hợp đồng bộ các công cụ của CSTT mà trọng tâm trong vấn đề này đó là nghiệp vụ thị trường mở, trung hòa lượng tiền cung ứng qua kênh mua ngoại tệ.

Giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế: Tỷ giá ổn định đã tác động tích cực đến tâm lý của người dân, tâm lý của thị trường tài chính. Người dân, giới đầu tư tin tưởng vào sự ổn định của VND. Điều này làm giảm hẳn tình trạng người dân lựa chọn việc cất trữ tài sản của mình bằng việc mua ngoại tệ, góp phần đẩy lùi tình trạng đô la hóa trong xã hội. Ước tính hết năm 2013, tổng tiền gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi của các TCTD giảm xuống dưới 12%.

Vốn tín dụng ngân hàng góp phần tái cơ cấu nền kinh tếhướng vào các lĩnh vực ưu tiên: Để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, các NHTM đều điều chỉnh phần lớn tăng trưởng tín dụng trong các năm 2011-2013 sang tập trung cho sản xuất, khu vực nông nghiệp - nông thôn, sản xuất và thu mua hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và DN nhỏ và vừa, với kỳ vọng sẽ góp phần rất lớn vào tăng trưởng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Thách thức và khuyến nghị cho thời gian tới

Một là, áp lực phá giá VND là rất lớn và từ nhiều phía khác nhau, vì vậy cần kiên trì mục tiêu ổn định tỷ giá VND/USD trong một giới hạn nhất định (nếu có biến động thì cả năm 2014 – 2015 không vượt quá 1-2% mỗi năm). Theo đó, các công cụ điều hành CSTT, trực tiếp là: lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở, chính sách và biện pháp quản lý thị trường ngoại tệ cũng theo hướng thực hiện mục tiêu này.

Hai là, áp lực về tăng trưởng dư nợ đối với nền kinh tế là rất lớn, trong khi điều kiện mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả vẫn diễn biến chậm, vì vậy chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng ngân hàng năm 2014 – 2015 đối với nền kinh tế chỉ nên coi là có tính chất định hướng, chứ không cứng nhắc phải phấn đấu bằng mọi cách để đảm bảo tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu đề ra hay khống chế mức tăng trưởng tín dụng. Năm 2014, mức tăng trưởng tín dụng được NHNN đưa ra là 12%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18% so với năm trước.

Vấn đề quan trọng là NHNN thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ đảm bảo tín dụng tăng trưởng an toàn, hiệu quả theo nhu cầu vốn nền kinh tế. Bên cạnh đó, các công cụ điều hành CSTT, đặc biệt là lãi suất, cho vay tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc... vẫn cần định hướng các TCTD vào việc mở rộng tín dụng đối với 5 đối tượng ưu tiên, thúc đẩy cạnh tranh mở rộng tín dụng nông nghiệp – nông thôn.

Ba là, trong điều kiện lãi suất cơ bản chưa phát huy vai trò điều tiết gián tiếp thị trường tiền tệ thì việc duy trì quy định trần lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay 5 đối tượng ưu tiên là hết sức cần thiết, ít ra là cần duy trì hết 6 tháng đầu năm 2014 nhằm phát đi tín hiệu thực sự về lãi suất trên thị trường.

Bốn là, diễn biến CPI trong các năm 2014- 2015 dự báo vẫn có các nguyên nhân như các năm qua. Trách nhiệm về kiềm chế lạm phát vẫn được dổ dồn lên CSTT, vì vậy, công tác điều hành CSTT cần chủ động, linh hoạt hơn; tăng cường hiệu quả, chất lượng công tác thanh tra giám sát... Mặt khác, cần đề nghị và chủ động phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

Năm là, sử dụng biện pháp truyền thống đó là tăng lãi suất, rút bớt tiền từ lưu thông về để kiềm chế lạm phát không còn hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thực tiễn hoạt động ngân hàng. Lạm phát không phải là nguyên nhân duy nhất, không phải lúc nào cũng do tiền tệ. Tăng lãi suất, rút bớt tiền từ lưu thông về, gây thiếu hụt thanh khoản, càng đẩy lãi suất trên thị trường tăng cao, tác động ngược lại mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Sáu là, tái cơ cấu nền kinh tế nói chung, tái cơ cấu các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước tiếp tục diễn ra chưa đạt hiệu quả và mục tiêu như mong muốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng ngân hàng, đến điều hành CSTT. Vì vậy, trong điều hành CSTT và quản lý chất lượng tín dụng cần có phương án cụ thể về những tác động này.

Những thách thức đối với việc điều hành CSTT trong 2 năm tiếp theo 2014-2015 là không hề nhỏ. Vì vậy, việc nhìn nhận lại một số bài học kinh nghiệm thời gian qua, trên cơ sở những dự báo và chủ động có những giải pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu dự kiến cho thời gian tới là hết sức cần thiết.

Tài liệu tham khảo:

1. Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước;

2. Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê;

3. Website của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 1 - 2014

Từ khóa: kinh tế vĩ mô , chỉ tiêu kinh tế vĩ mô , chính sách tiền tệ , hệ thống ngân hàng , tăng trưởng tín dụng , thị trường vàng , lãi suất , tỷ giá , nợ xấu , chất lượng tín dụng Các tin đã đưa 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Đẩy mạnh tái cấu trúc hiệu quả thị trường tài chính gắn với tái cơ cấu nền kinh tế Nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái đã định hình trong các năm 2012 - 2013 Tái cơ cấu ngân hàng: Còn nhiều nghi ngại Kiểm toán hoạt động góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn lực Phát triển thị trường bảo hiểm WTO: "thuyền thúng" và "đại dương" FDI có phải là "thần dược" cho Việt Nam? Xu hướng kinh doanh 2014 Thiết lập cơ chế một cửa giải quyết thủ tục đầu tư Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Giải pháp tài chính tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô Ngành Thuế: Tạo động lực quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ thu 2014 Tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2014 (*) EU muốn tạo thêm việc làm trong lĩnh vực kỹ thuật số 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, giấc mơ nhà Hà Nội có thành sự thực?

Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, giấc mơ nhà Hà Nội có thành sự thực?

Thứ năm 16/01/2014 09:13

(Tài chính) Mới đây, Bộ Xây dựng đã đưa Ngân hàng tiết kiệm nhà ở vào trong Dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi và dự kiến đến năm 2017 là thời điểm thích hợp cho sự ra đời của ngân hàng tiết kiệm nhà ở đầu tiên tại Việt Nam. Liệu mô hình này có thực sự giúp ích cho người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở?

Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, hi vọng cho người thu nhập thấp có nhà. Nguồn: internet

Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, hi vọng cho người thu nhập thấp có nhà

Mô hình ngân hàng tiết kiệm nhà ở đã rất thành công ở một số nước trên thế giới và đang tiếp cận thị trường Việt Nam nhằm hỗ trợ cho người thu nhập thấp có điều kiện mua nhà để ở.

Theo mô hình này, mức tiền tiết kiệm sẽ do khách hàng và ngân hàng tự thỏa thuận, khi người gửi đã tiết kiệm được 50% tổng số tiền cần dùng để mua nhà, họ sẽ được ngân hàng cho vay 50% còn lại. Các khoản tiết kiệm của khách hàng có lãi suất cố định, đồng thời tín dụng của ngân hàng cũng đảm bảo lãi suất thấp và cố định trong suốt kỳ cho vay.

Do vậy, khách hàng không lo biến động lãi suất trên thị trường vốn. Hơn thế, mức lãi suất này thông thường thấp hơn lãi suất trên thị trường đối với các khoản tín dụng tương đương. Với cơ chế hoạt động này, cá nhân người mua hoặc sửa nhà sẽ tránh được rủi ro lãi suất…

Nhiều người còn cho rằng, tiết kiệm nhà ở dưới hình thức ngân hàng là một mũi tên trúng rất nhiều đích. Nhà nước được lợi vì không phải bỏ tiền ra “trợ cấp” như với mô hình Quỹ phát triển nhà ở đang tồn tại, đồng thời gia tăng nguồn thu từ thuế, giảm chi trợ cấp xã hội, thu hút vốn cho trái phiếu chính phủ và phát triển nhiều ngành khác… Người dân có lợi vì được vay thời gian dài với mức lãi suất thấp có thể biết trước. Còn ngân hàng cũng sẽ thu được những lợi ích không nhỏ.

Ngân hàng tiết kiệm nhà ở tại Việt Nam có khả thi?

Tuy nhiên, đánh giá về đề xuất thành lập Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, một số chuyên gia cho rằng, hiện tại Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng và đang trong quá trình tái cơ cấu theo hướng giảm lượng, tăng chất. Và bản thân các ngân hàng đã có những sản phẩm tín dụng hướng đến đối tượng trên. Do vậy, việc thành lập thêm một ngân hàng tiết kiệm nhà ở là không cần thiết.

Theo Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Trần Kim Chung cho rằng, để mô hình này khả thi cần hội tụ 3 yếu tố: có hệ thống văn bản pháp luật đủ mạnh; nền kinh tế đủ ổn định và thu nhập đủ mức.

Nhưng nhiều ý kiến quan ngại rằng, để hội tụ đủ 3 yếu tố trên sẽ phải mất rất nhiều năm. Do lạm phát của Việt Nam thường cao so với các nước trên thế giới, đồng nghĩa với việc đồng tiền có xu hướng mất giá liên tục. Theo đó, lãi suất có xu hướng tăng bởi các ngân hàng vẫn có quan điểm đảm bảo lãi suất huy động thực dương cho người gửi tiền. Do đó, duy trì một mức lãi suất cho vay ổn định ở mức thấp, ổn định tới 10 năm là khó khả thi.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng như chính đối tượng tham gia đóng góp vào quỹ luôn hồ nghi về tính minh bạch và rõ ràng trong quá trình hoạt động và điều hành quỹ. Thay vì được thiết lập theo quy mô địa phương, quỹ lại tồn tại ở quy mô quốc gia, nên khả năng giải ngân, hỗ trợ đúng lúc, đúng chỗ cho người có nhu cầu hợp pháp gần như là không thể.

“Không biết cơ chế hoạt động của ngân hàng này sẽ được quy định như thế nào. Nhưng tôi e nếu không quản lý tốt sẽ tạo cho lợi ích nhóm và người dân có nhu cầu thật lại không được hưởng chính sách ưu đãi”, TS. Nguyễn Đức Thành, Đại học Kinh tế thuộc Đại học quốc gia Hà Nội nêu ý kiến.

Còn nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, ông Phạm Sỹ Liêm cho rằng, mô hình trên rất hay, tốt nếu áp dụng được. Tuy nhiên, điều kiện nước ta hiện rất khó triển khai. “Nếu giờ một căn hộ khoảng 600 triệu đồng, để tiết kiệm được 300-400 triệu đồng (đủ điều kiện được vay) phải mất 10-15 năm, thậm chí lâu hơn. Liệu lúc đó, với số tiền 600-800 triệu đồng có còn mua được nhà?”, ông Liêm đặt vấn đề. “Mô hình này cũng chỉ phù hợp với người thu nhập trung bình cao, người thu nhập thấp không thể mỗi tháng gửi tiết kiệm vài triệu đồng”.

Một vị chuyên gia khác đề xuất: thay vì thành lập ngân hàng chuyên biệt này, Bộ Xây dựng nên thực hiện tốt các chính sách của bộ này liên quan đến Quỹ tiết kiệm nhà ở đã được quy định trong Nghị định 71/2010 của Chính phủ sẽ thiết thực, ý nghĩa hơn nhiều.

Được biết, mới đây, Bộ Xây dựng đã đưa điều khoản về ngân hàng tiết kiệm nhà ở vào Luật Nhà ở sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội vào năm 2014. Nếu chưa phù hợp với luật thì thực hiện thí điểm, nhằm tạo điều kiện cho người dân có nhiều cơ hội vay vốn lãi suất thấp để mua nhà và dự kiến đến năm 2017 sẽ là thời điểm thích hợp cho sự ra đời của ngân hàng tiết kiệm nhà ở đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên mô hình này cần phải được tính toán kĩ lưỡng, có đề án thí điểm để đảm bảo tính khả thi.

Với những động thái tích cực của Bộ Xây dựng, nhiều người nhất là những người lao động có thu nhập thấp hi vọng sớm tiếp cận được nguồn vốn vay lãi suất thấp để mua nhà, biến giấc mơ có nhà thành sự thật.

Theo vietnamnet.vn

Từ khóa: Bộ Xây dựng , Ngân hàng tiết kiệm nhà ở , Dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi , người thu nhập thấp , Quỹ phát triển nhà ở , TS. Nguyễn Đức Thành Các tin đã đưa Kiểm soát hoạt động thực hiện dịch vụ tại các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí Tái cấu trúc nền kinh tế để tăng trưởng bền vững Giải pháp tái cơ cấu hiệu quả ngành nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, giấc mơ nhà Hà Nội có thành sự thực? Những giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát năm 2014 (*) Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Cần chuyên nghiệp hơn để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài Giải tỏa điểm nghẽn cho giám sát thị trường tài chính Quản lý đầu tư công ở địa phương: Những bất cập từ phân cấp Thực trạng kiểm toán tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Hải quan Quảng Ninh: Triệt phá đường dây buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 28 cá nhân ngành Công an Kinh tế Việt Nam – Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân vững vàng và khối óc minh mẫn Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công

Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công

Thứ năm 09/01/2014 16:00

TS. Nguyễn Thanh Hoa (Theo Tạp chí Tài chính - Bảo hiểm)

(Tài chính) Bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng) từ lâu đã là kênh bán hàng đầy tiềm năng và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) tại thị trường các nước phát triển. Tại Việt Nam, trong một số năm trở lại đây, kênh phân phối này đã bắt đầu được triển khai tại hầu hết các DNBH và bước đầu đem lại những kết quả khả quan.

Gần đây, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang chuẩn bị ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện bán bảo hiểm qua các Tổ chức tín dụng, tạo điều kiện hợp tác phát triển bán bảo hiểm qua các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là cơ sở pháp lý để tất cả các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp bảo hiểm biết mình được làm những gì, làm như thế nào để bán bảo hiểm qua ngân hàng không phải “vừa làm vừa nghe ngóng” như trước. 

Tuy nhiên, để có thể triển khai bancassurance một cách thành công lại không hoàn toàn đơn giản. Vậy đâu là nguyên nhân, liệu có một “công thức thành công” hay đâu là những yếu tố quyết định thành công trong việc phát triển hợp tác và triển khai bancassurance hiệu quả tại Việt Nam?

Bancassurance – xu thế tất yếu khi tích hợp nhiều lợi ích

Bancassurance không phải là một khái niệm mới tại thị trường Việt Nam và có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, đơn giản đó là việc phân phối sản phẩm bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng. Bancassurance phát triển đầu tiên ở Mỹ và các nước Châu Âu. Hiện nay, Bancassurance là một trong những kênh phát triển nhanh nhất ở hầu hết thị trường châu Á, đồng thời là kênh phân phối hàng đầu trong thị trường bảo hiểm này. Tại Việt Nam, Bancassurance đã bắt đầu phát triển trong 10 năm trở lại đây, tuy nhiên, để thực sự chỉ ra một điển hình thành công trong mô hình phân phối này thì chưa thực sự có một điển hình thành công nào thực sự nổi bật.

Bancassurance - Hiểu thế nào cho đúng?

Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu về Bancassurance, ví dụ như:       

Theo định nghĩa của LIMRA, Bancassurance là “một chiến lược được các ngân hàng hoặc các DNBH sử dụng nhằm hoạt động trong thị trường tài chính theo cách thức hợp nhất dịch vụ ở mức độ phù hợp.” Theo cách hiểu của Remark thì Bancassurance là việc “ngân hàng và DNBH hợp tác với nhau để phát triển và phân phối một cách có hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng”.

Trên thực tế Bancassurance có thể hiểu một cách đơn giản nhất đó là một chiến lược được các ngân hàng hoặc các DNBH sử dụng nhằm hoạt động trong thị trường tài chính theo cách thức hợp nhất dịch vụ ở một mức độ nhất định. Một triết lý chung của bancassurance chính là sự kết hợp của khả năng phát triển sản phẩm và văn hóa bán hàng của các DNBH với mạng lưới phân phối và cơ sở khách hàng rộng lớn của các ngân hàng.

Tóm lại, Bancassurance được hiểu là việc ngân hàng và DNBH cùng hợp tác để phát triển và phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng-bảo hiểm cho cùng một cơ sở khách hàng. Bancassurance có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là việc các ngân hàng tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình. Việc tham gia của ngân hàng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ theo hình thức hợp tác triển khai bancassurance mà hai bên cam kết thỏa thuận.

Bancassurance – Vì sao hấp dẫn?

Bancassurance hấp dẫn vì thỏa mãn nhu cầu của tất cả các bên liên quan: khách hàng, ngân hàng và công ty bảo hiểm.

Đối với khách hàng, nhu cầu của khách hàng thường được thỏa mãn khi họ được tiếp cận tới một tổ chức “một cửa” cung cấp các dịch vụ tài chính. Ngoài tiền gửi, vay và các giao dịch thường xuyên, khách hàng ngày nay còn được bảo vệ khỏi các rủi ro trong cuộc sống do được tham gia các hợp đồng bảo hiểm với mức phí hợp lý và được cả DNBH và ngân hàng chăm sóc. Bancassurance giúp ngân hàng hoàn thiện vòng quay nhu cầu của khách hàng bằng việc đáp ứng đầy đủ 4 nền tảng dịch vụ chủ chốt: Cho vay, Giao dịch, Đầu tư, và Bảo vệ (Bảo hiểm)

Đối với Ngân hàng, việc phân phối sản phẩm bảo hiểm sẽ giúp củng cố lòng trung thành và tăng sự gắn bó của ngân hàng và khách hàng vì các sản phẩm bảo hiểm có kỳ hạn dài hơn các mức gửi tiết kiệm hay các khoản vay ở tại ngân hàng; giúp ngân hàng trở thành một “siêu thị tài chính một cửa” cung cấp các dịch vụ trọn gói, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng, và đa dạng hóa sản phẩm, tạo thêm nguồn thu từ hoa hồng cho ngân hàng và nhân viên ngân hàng.

Đối với Công ty bảo hiểm, bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, đây là một kênh phân phối phức tạp, có khả năng mở rộng và hiệu quả, giúp gia tăng thị phần và doanh thu,  tiếp cận thêm với nguồn khách hàng mới của ngân hàng và tạo ra giá trị thương hiệu từ việc hợp tác liên kết (co-branding) với các ngân hàng.

Có thể nói rằng Bancassurance hấp dẫn bởi mang lại lợi ích, sự tiện lợi và làm thỏa mãn tất cả các bên tham gia: Khách hàng – Ngân hàng và Công ty bảo hiểm.

Bancassurance – Xu thế tất yếu?

Trên thế giới, bancassurance đã và đang nổi lên như một kênh phân phối chính cho các DNBH. Hoạt động Bancassurance có nhiều hình thức khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới tùy theo môi trường luật pháp, kinh tế và yếu tố về nhân khẩu học của từng quốc gia. Yếu tố nhân khẩu quyết định sản phẩm Bancassurance, tình hình kinh tế quyết định xu hướng về doanh số, thị phần,…trong khi đó môi trường pháp luật sẽ xác định phạm vi hoạt động Bancassurance. Ở hầu hết các nước đang phát triển, việc bán bảo hiểm qua ngân hàng đã phát triển nhanh hơn tất cả các kênh phân phối khác và tỷ lệ thâm nhập của bancassurance tại các thị trường có xu hướng ngày càng tăng.

Trong khu vực, theo ghi nhận tại Hội nghị Châu Á lần thứ 14 về “Bancassurance và kênh phân phối tiềm năng” vừa được tổ chức tại Indonesia, các chuyên gia trong lĩnh vực này cho biết, Bancassurance là một trong những kênh phát triển nhanh nhất ở hầu hết các thị trường tại Châu Á, đồng thời là kênh phân phối hàng đầu trong nhiều thị trường tại khu vực này. Tính đến nay, tỷ lệ đóng góp doanh thu phí bảo hiểm Bancassurance của các DNBHnhân thọ tại Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông đã tăng lên hơn 50% so với mức 10% so với năm 2000. Đặc biệt, với thị trường có xuất phát điểm là 0% vào năm 2000 như Thái Lan, thì đến năm 2012, tỉ lệ đóng góp doanh thu phí bảo hiểm Bancassurance cho các DNBH nhân thọ tại đây cũng đã lên đến hơn 43%.

Tại Việt Nam, trong thời gian qua, các doanh nghiệp bảo hiểm đã tích cực phối hợp với các ngân hàng thương mại tham gia phát triển mạnh mẽ kênh phân phối Bancassurance. Ngoài ra, Bancassurance đang trở thành một trào lưu và xu hướng tất yếu để các ngân hàng trong nước tìm tới một nguồn thu bổ sung bền vững và an toàn, thay vì dựa vào hoạt động tín dụng nhiều vốn, rủi ro cao. Những DNBH đang phát triển mạnh kênh phân phối này tại thị trường Việt Nam hiện nay là Bảo Việt, Prudential, Manulife, Prevoir, VCLI, Vietin-Aviva…

Các DNBH khác như Dai-ichi Life Việt Nam, ACE Life, AIA Việt Nam, Great Eastern, Hanwha Life… cũng đã vào cuộc và ký kết hợp tác với các ngân hàng khác nhau. Các dòng sản phẩm bảo hiểm tai nạn, sức khỏe con người, Bảo hiểm du lịch toàn cầu, Bảo hiểm hỗ trợ viện phí, Bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm nhà, bảo hiểm tín dụng tiêu dùng, bảo hiểm tài sản cầm cố thế chấp… ngày càng được phát triển đa dạng đã và đang được các doanh nghiệp phối hợp cung cấp cho  khách hàng và cũng đã được thị trường đón nhận.

Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam sau một thời gian triển khai kênh phân phối sản phẩm này đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ, doanh thu phí bảo hiểm từ kênh Bancassurance đã không ngừng tăng lên. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các thỏa thuận hợp tác mới giữa doanh nghiệp bảo hiểm và Ngân hàng đã chứng minh cho sự phát triển nhanh chóng của xu hướng này.

Từ việc chỉ ký kết hợp tác mang để “truyền thông” và đánh bóng thương hiệu, thì gần đây hoạt động bancassurance đã đi vào chiều sâu và thực chất bằng việc doanh thu bancassurance ngày càng tăng lên và việc hình thành các DNBH– là các công ty con trực thuộc các ngân hàng và phân phối sản phẩm bảo hiểm qua các ngân hàng như BIC-BIDV, VCLI-Vietcombank, Bảo Ngân, AVIVA-Vietinbank, ABIC-Agribank.

Không chỉ xuất hiện ở phân khúc thị trường bảo hiểm nhân thọ, hiện nay tại phân khúc thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, kênh Bancassurance còn phát triển với tốc độ nhanh hơn và đang được đánh giá là thành công hơn so với khối bảo hiểm nhân thọ do sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ thường đơn giản, dễ bán hơn. Mặt khác, các ngân hàng cũng tỏ ra “chuộng” các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ để bảo vệ vốn vay cho chính ngân hàng.

Bảo Việt được biết đến như một trong những đơn vị tiên phong trong hợp tác bancassurance trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ với các ngân hàng uy tín như HSBC, Techcombank, Maritime Bank…và đã đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận. Năm 2012, Bảo hiểm Bảo Việt đạt 140 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc từ bancassurance so với năm 2011, và dự kiến năm 2013, Bảo hiểm Bảo Việt sẽ đạt khoảng 180 tỷ đồng doanh thu, với mức tăng trưởng tương đương 28,5% so với năm 2012.

Với Bảo Việt Nhân thọ, tốc độ tăng trưởng doanh thu phí khai thác mới luôn cao hơn 200%/năm và đã cùng các ngân hàng nghiên cứu, triển khai nhiều dòng sản phẩm kết hợp “ngân hàng-bảo hiểm” mang thương hiệu Bảo Việt có uy tín trên thị trường như “An Tâm Bảo Tín”, “An Tâm Tiết Kiệm” (qua Ngân hàng Techcombank), bảo hiểm “Tình yêu cho con”, và các dòng sản phẩm kết hợp qua Ngân hàng Bảo Việt cũng mang lại hiệu quả và nguồn thu đáng ghi nhận trong những năm vừa qua.

Bancassurance – yếu tố quyết định thành công

Triển khai và phát triển bancassurance luôn là một thách thức, dù ở thị trường đã phát triển hay thị trường tiềm năng. Tuy nhiên, nếu thành công, bancassurance có khả năng giúp DNBH thiết lập một công cụ phân phối rộng lớn với chi phí hợp lý. Vì vậy, để có thể triển khai kênh phân phối này hiệu quả, cần có sự đầu tư nguồn lực tập trung vào bancassurance từ cả hai phía: DNBH và ngân hàng.

Tuy nhiên, thực tế triển khai bancassurance cho thấy, việc phát triển bancassurance một cách hiệu quả và thành công không đơn giản do có những yếu tố cản trở sự phát triển của bancassurance như: không có định hướng hay chiến lược phát triển bancassurance của ngân hàng và công ty bảo hiểm, thiếu sự hỗ trợ và cam kết từ phía ngân hàng, sản phẩm và quy trình không phù hợp và phức tạp, khó khăn trong việc tư vấn bảo hiểm, thiếu nhân lực chất lượng cao và có kinh nghiệm trong triển khai bancassurance, văn hóa và kỹ năng tư vấn bảo hiểm của nhân viên ngân hàng chưa chuyên nghiệp và chủ động, hiểu biết về sản phẩm và quy trình bảo hiểm còn hạn chế, phân bổ và cơ chế hoa hồng chưa tạo được động lực và thu hút nhân viên ngân hàng.

Bên cạnh đó, các rủi ro về thương hiệu khi kết hợp hình ảnh giữa ngân hàng và DNBH cũng là vấn đề được quan tâm trong bối cảnh hiện nay khi các ngân hàng phần lớn đều gặp khó khăn ở các mảng kinh doanh.

Để triển khai bancassurance thành công phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vì vậy, để có thể tận dụng được lợi thế về chi phí và quy mô của mô hình phân phối này, cần có sự nghiên cứu và đúc kết các kinh nghiệm thực tế về những yếu tố quyết định thành công trong hợp tác và triển khai bancassurance như sau:

Hoạch định chiến lược và định hướng phát triển bancassurance rõ ràng

Bancassurance muốn thành công, cần có chiến lược và định hướng phát triển rõ ràng. Bởi vì, Bancassurance khó có thể thành công khi DNBH và ngân hàng không xây dựng chiến lược và lộ trình triển khai, đầu tư nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác bài bản, phù hợp với điều kiện mỗi bên và điều kiện thị trường.

Chính vì vậy, DNBH và ngân hàng cần thống nhất lộ trình và bước đi phù hợp để xây dựng mô hình hợp tác. Với công ty bảo hiểm, chiến lược phát triển bancassurance có thể nhằm tăng doanh thu, thúc đẩy tăng thị phần, đặc biệt là tạo ra kênh phân phối thay thế các kênh phân phối truyền thống trong bối cảnh thị trường đang ngày càng cạnh tranh như hiện nay. Trong bối cảnh của cơn lốc suy thoái kinh tế, các DNBH đã học được cách thích nghi với thị trường.

Hầu hết các DNBH phi nhân thọ đều có chính sách tận dụng triệt để kênh bán lẻ để phân phối những sản phẩm bảo hiểm đáp ứng xu hướng của khách hàng. Để đẩy mạnh doanh thu, bán lẻ chính là chiến lược của nhiều DNBH phi nhân thọ và bancassurance là một lựa chọn cho hướng đi bán lẻ của DNBH đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.

Tương tự với Ngân hàng, trong bối cảnh kinh doanh khó khăn và tỷ lệ nợ xấu ngày càng cao như hiện nay, việc triển khai thêm các sản phẩm bảo hiểm vừa giúp ngân hàng tăng thêm doanh thu từ hoa hồng bảo hiểm, vừa tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao chất lượng tư vấn và dịch vụ khách hàng. Chiến lược phát triển của ngân hàng, định vị khách hàng mục tiêu tập trung vào khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp sẽ giúp DNBH lựa chọn và hoạch định chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của ngân hàng và khách hàng.

Đối với Bảo Việt, đến năm 2015, mục tiêu phát triển bancassurance trong lĩnh vực bảo hiểm được định hình khá rõ trong chiến lược phát triển kinh doanh của mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ nên có sự đầu tư nguồn lực và ưu tiên phát triển cho lĩnh vực này. Chiến lược phát triển bancassurance và định hướng triển khai bancassurance cần được gắn vào chiến lược kinh doanh chung của DNBH và ngân hàng để đảm bảo cùng hướng đến mục tiêu chung và đầu tư cho tương lai của kênh phân phối mới.

Cam kết hợp tác chặt chẽ, lâu dài và thường xuyên từ các cấp

Một trong những thất bại từ hoạt động bancassurance là do cam kết hợp tác không được duy trì đều đặn và thường xuyên. Cam kết hợp tác không chỉ hiểu là cam kết từ cấp lãnh đạo cao nhất (Hội đồng Quản trị hay Tổng Giám đốc) mà còn ở các cấp hợp tác cấp Khối, Phòng, Ban…cụ thể như sau:

Cam kết có thể được thể hiện qua các hình thức ký hợp đồng phân phối hàng năm, ký giao ước thi đua quy định chỉ tiêu hàng năm giữa DNBH và ngân hàng cũng như của ngân hàng với từng chi nhánh. Ngoài, các bộ phận/các cấp cần có sự liên lạc, trao đổi thông tin thường xuyên, lãnh đạo cần gặp gỡ, đưa ra định hướng phát triển theo quý, hoặc theo tháng và cập nhật tình hình kinh doanh.

Các nhân viên kinh doanh, đại lý và chuyên gia bảo hiểm của DNBH phải thường xuyên thăm hỏi, động viên và hỗ trợ kinh doanh tại các chi nhánh/điểm giao dịch của Ngân hàng. Đồng thời, cần có những cuộc họp của hai bên, các cấp để trao đổi và rút kinh nghiệm trong triển khai để việc hợp tác có hiệu quả. Nhiều đơn vị thực hiện ký kết hợp tác nhưng sau đó, không có sự duy trì quan hệ thường xuyên từ các cấp triển khai dẫn đến hiệu quả hợp tác không cao và sau đó không phát triển được bancassurance.

Đối với Bảo Việt, để có thể hợp tác bancassurance hiệu quả DNBH và Ngân hàng cùng triển khai thành lập tổ dự án hợp tác bancassurance và Bảo Việt đã thành lập và đầu tư nguồn nhân lực tốt cho Phòng Bancassurance chuyên trách về hoạt động bancassurance một cách hiệu quả và chuyên nghiệp để triển khai, theo dõi, giám sát có hiệu quả hoạt động phân phối bảo hiểm tại các ngân hàng. Quan hệ đối tác và điều phối hoạt động, triển khai hoạt động được thực hiện đồng bộ. Hai bên cần cam kết và kiên trì định hướng bán hàng hướng tới nhu cầu thể hiện trong tất cả các khâu: Thiết kế sản phẩm, chào phí, tư vấn bán hàng, phát hành quản lý hợp đồng, giải quyết bồi thường và dịch vụ sau bán hàng.

Xác định mô hình hợp tác phân phối phù hợp

DNBH và ngân hàng cần thống nhất mô hình phân phối có lợi cho cả hai bên, trong đó quy định rõ ràng về sản phẩm hợp tác, quy trình phối hợp, chia sẻ lợi nhuận, chia sẻ cơ sở khách hàng, sự hỗ trợ và nguồn lực trong thời gian thỏa thuận trên cơ sở cân nhắc tới các yếu tố như mức độ cam kết từ đối tác; mạng lưới, năng lực phân phối sản phẩm, thương hiệu…Cam kết hợp tác của hai bên càng cao thì mô hình hợp tác phân phối sản phẩm càng sâu rộng và dài hạn.

Có rất nhiều cách khác nhau để xác định mô hình hợp tác phân phối giữa các DNBH và  ngân hàng. Cơ bản nhất là các Thỏa thuận Phân phối (Distribution agreement - ngân hàng phân chỉ phối sản phẩm bảo hiểm (sản phẩm liên kết hoặc sản phẩm bảo hiểm truyền thống) và hưởng hoa hồng, sau đó là Thỏa thuận Liên minh Chiến lược (Strategic Alliance – ngân hàng và DNBH sẽ hợp tác sâu hơn và mức độ chia sẻ thông tin hợp tác cao hơn) và cao nhất là Thỏa thuận Độc quyền (Exclusive Arrangement - hai bên sẽ có thỏa thuận rõ ràng về quyền sở hữu chung đối với sản phẩm và khách hàng.

Loại thỏa thuận này đòi hỏi hai bên đối tác có cam kết hợp tác bền vững lâu dài, và vì vậy, có thể thấy sẽ có sự đầu tư vào bán hàng, marketing, công nghệ thông tin, v.v). Ngoài ra, ngân hàng và DNBH có thể liên doanh thành lập DNBH mới để cơ sở khách hàng được chia sẻ hiệu quả giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm. Hoặc các ngân hàng có thể thành lập DNBH riêng để thiết kế, triển khai và phân phối sản phẩm bảo hiểm trong hệ thống của mình.

Tùy điều kiện và khả năng hợp tác, DNBH và ngân hàng sẽ lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp, khi bắt đầu thiết lập quan hệ hợp tác để tìm hiểu nhu cầu hai bên có thể ký thỏa thuận phân phối trong ngắn hạn, sau đó, sẽ nâng cấp lên mức độ cao hơn.

Cụ thể như tại thị trường Việt Nam, vừa qua, Prudential và Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) đã ký kết hợp đồng phân phối độc quyền sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại ngân hàng này sau 2 năm quan hệ phân phối bảo hiểm qua MSB. Thỏa thuận hợp tác độc quyền sẽ là mục tiêu cho tất cả các quan hệ đối tác muốn hướng đến. Hoặc xu hướng như các DNBH được thành lập từ các ngân hàng lớn như ABIC, Bảo Ngân, BIC, Vietcombank Cardif…tạo ra một thị trường bancassurance thực sự sôi động tại Việt Nam thời gian vừa qua.

Kế hoạch và mục tiêu triển khai cụ thể, cơ chế hợp tác rõ ràng

Chiến lược phát triển bancassurance đã được hoạch định, cam kết hợp tác của ngân hàng và DNBH cao, mô hình phân phối đã được định vị rõ ràng nhưng nếu không có mục tiêu và kế hoạch triển khai cụ thể cho từng giai đoạn thì việc hợp tác bancassurance khó khả thi.

Vì lẽ đó, mục tiêu, kế hoạch và lộ trình triển khai cần được hoạch định và tuân theo kế hoạch kinh doanh của ngân hàng và DNBH theo tháng, quý, và hàng năm. Ví dụ: năm 2011, tập trung phân phối bảo hiểm phi nhân thọ cho khối khách hàng cá nhân của Ngân hàng; năm 2012, triển khai 3 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho khối khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng và triển khai thí điểm mô hình Chuyên gia bảo hiểm cho các dòng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống tại Miền Bắc, năm 2013, tập trung phân phối bảo hiểm cá nhân cho khách hàng VIP của ngân hàng…

Nguồn lực, thời gian, chi phí cần được chi tiết hóa và có cam kết của hai bên. Ngoài ra, cần xác định doanh thu và giao KPIs cho từng chi nhánh, cán bộ kèm cơ chế thưởng phạt rõ ràng để có thẩy thúc đẩy triển khai bancassurance hiệu quả và phân rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên. Cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin cũng cần được quy định rõ và nếu các đơn vị không hoàn thành kế hoạch đã giao sẽ cần được hỗ trợ nhiều hơn để có thể thúc đẩy hợp tác hiệu quả.

Tóm lại, muốn triển khai bancassurance thành công, DNBH  và  Ngân hàng cần rõ mục tiêu và kế hoạch phát triển cũng như có  kế hoạch triển khai sản phẩm, marketing, đào tạo và hỗ trợ bán hàng với nguồn lực  phù hợp và hoàn thành được kế hoạch kinh doanh đã đặt ra với thời gian thực hiện cụ thể, rõ ràng.

Lựa chọn nhân sự đủ năng lực và “đam mê” Bancassurance

Con người là yếu tố quan trọng và luôn được coi là yếu tố quyết định thành công trong bất kỳ dự án nào. Với DNBH, những cán bộ và quản lý bancassurance cần là những người tâm huyết, nhiệt tình và bởi bancassurance là chiến lược lâu dài, kênh phân phối này cần nguồn lực có kỹ năng cao, thể hiện được niềm đam mê và cam kết với công việc ngoài những kiến thức về bảo hiểm và ngân hàng và các kỹ năng cần thiết để giao tiếp, tư vấn và bán bảo hiểm hoặc hỗ trợ bán hàng.

Với ngân hàng, yếu tố con người càng quan trọng bởi doanh thu từ bancassurance thường không lớn so với tỷ trọng doanh thu mang lại từ hoạt đông ngân hàng nên việc phân bổ nguồn lực và cán bộ/bộ phận điều phối bancassurance là vô cùng quan trọng. Chính họ sẽ là nhân tố mang lại thành công để điều phối, theo dõi giao chỉ tiêu và khắc phục các khó khăn trong triển khai bán bảo hiểm tại ngân hàng.

Ngoài ra, các cán bộ kinh doanh của Ngân hàng cũng cần được trang bị kỹ năng về sản phẩm bảo hiểm, kỹ năng tư vấn và thuyết phục khách hàng hoặc được cấp chứng chỉ phân phối bảo hiểm. Các vị trí và mô hình tổ chức trong bộ phận bancassurance tại ngân hàng và DNBH cần được phân định rõ và lựa chọn “đúng người, đúng việc” để triển khai bancassurance hiệu quả.

Từ đó, DNBH và Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ có năng lực và kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết “làm đầu mối”  và  hệ thống tổ chức bộ phận/phòng ban chức năng về bancassurance để điều phối và thúc đẩy việc triển khai bancassurance tại Ngân hàng.

Lựa chọn sản phẩm bảo hiểm đơn giản, phù hợp nhu cầu của ngân hàng và khách hàng

Sản phẩm được coi là yếu tố quan trọng nhất để triển khai bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Có hai điểm cần được quan tâm  trong lựa chọn sản phẩm để phân phối qua kênh bancassurance:

Một là, sản phẩm phải đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu và đảm bảo nhân viên  ngân hàng vốn đã rất bận rộn vẫn có thể nắm  được,  những dòng sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cá nhân như bảo hiểm ôtô, xe máy, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn, hoặc những dòng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ của bảo hiểm nhân thọ như bảo hiểm cho người đi vay, bảo hiểm cho người gửi tiền hoàn toàn đáp ứng được việc triển khai cho bộ phận khách hàng cá nhân của ngân hàng với số lượng lớn và doanh thu phí ở mức thấp.

Những dòng sản phẩm này chủ  yếu được ngân hàng ưa chuộng trong thời gian hợp tác ban đầu hoặc mới triển khai bancassurance để nâng cao  nhận thức của cán bộ ngân hàng và nhân viên ngân hàng về việc phân phối và tham gia bảo hiểm tại ngân hàng. Thậm chí, nhiều ngân hàng có thể mua làm quà tặng như một chương trình khuyến mại cho khách hàng. Các sản phẩm bảo hiểm con người, sức khỏe, tai nạn, xe cơ giới bán qua ngân hàng sẽ phù hợp và đem lại sự thuận tiện cho khách hàng. Xuất phát từ nhu cầu khách hàng, hai bên có thể trao đổi và thiết kế những dòng sản phẩm chung thỏa mãn nhu cầu của khách hàng với dịch vụ ngân hàng kết hợp bảo hiểm khi gửi tiết kiệm, khi đi vay.

Hai là, mục tiêu của ngân hàng và DNBH cuối cùng vẫn là hiệu quả kinh doanh hay nói cách khác là phải “có lãi”, muốn như vậy, sản phẩm phải có giá trị cao để giúp ngân hàng thu được doanh thu từ hoa hồng hợp lý đảm bảo vốn đầu tư cho bancassurance cả về nhân lực và cơ sở vật chất. Những sản phẩm có thể có giá trị lớn và hoa hồng cao là những  gói bảo hiểm cho khách hàng  doanh nghiệp như tòa nhà, trụ sở, tàu, hàng không hoặc những hợp đồng  bảo hiểm nhân thọ truyền thống được phân phối qua ngân hàng.

Muốn thành công trong phân phối sản phẩm bảo hiểm của ngân hàng cần có kế hoạch và chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với chiến lược và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Hơn nữa, một điều quan trọng là cơ chế hoa hồng qua ngân hàng cũng được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh xung đột với kênh đại lý hoặc cơ chế lương, thưởng của ngân hàng. Việc này rất khó và các ngân hàng thường phân bổ hoa hồng để tạo động lực cho nhân viên ngân hàng bán sản phẩm hoặc đề ra chỉ tiêu bán bảo hiểm hoặc triển khai các chương trình thi đua khuyến khích bán hàng.

Một số yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi phát triển các sản phẩm cho bancassurance đó là: thỏa thuận về sản phẩm phân phối, tài liệu tóm tắt về sản phẩm và tài liệu hướng dẫn bán hàng đơn giản, sản phẩm được thiết kế riêng biệt cho ngân hàng, kết hợp thương hiệu (Co-branded) cho ngân hàng, sản phẩm được quảng cáo tại quầy của ngân hàng, phí bảo hiểm phù hợp. Ngân hàng cùng DNBH hoạch định chiến lược phát triển sản phẩm dựa trên nhu cầu của khách hàng, có thể kết hợp thương hiệu (co-branding) hoặc tạo ra dòng sản phẩm độc quyền triển khai qua ngân hàng để tạo  sự khác biệt và hấp dẫn khách hàng hơn.

Lựa chọn chiến lược phát triển sản phẩm liên kết (ngân hàng – bảo hiểm) để tăng số lượng khách hàng hoặc lựa chọn các sản phẩm bảo hiểm truyền thống để phân phối qua ngân hàng giúp tăng doanh thu nhanh chóng sẽ là yếu tố tiên quyết giúp xác định bancassurance sẽ thành công hay thất bại. Sản phẩm/dịch vụ của DNBH phân phối qua ngân hàng cần đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng  và nhu cầu của ngân hàng.

Lựa chọn mô hình và phương thức phân phối sản phẩm phù hợp

Lựa chọn sản phẩm phù hợp để phân phối qua ngân hàng, nhưng nếu không lựa chọn được mô hình phân phối phù hợp để triển khai sản phẩm thì sẽ không thể thành công. Mỗi mô hình và phương thức phân phối sẽ có ưu và nhược điểm riêng nhưng tựu chung lại cần phù hợp với đặc điểm của thị trường.

Có thể phân định được 5 mô hình kinh doanh cơ bản dành cho phân phối bảo hiểm qua ngân hàng, bao gồm:

(1) Mô hình giới thiệu: Nhân viên ngân hàng giới thiệu khách hàng cho Chuyên gia bảo hiểm bán và hưởng hoa hồng giới thiệu. DNBH qua mô hình này có thể tiếp xúc với nguồn khách hàng tiềm năng là khách hàng của Ngân hàng thay vì phải tự đi tìm kiếm khách hàng trên thị trường.

(2) Đại lý bảo hiểm làm việc tại ngân hàng: Tùy chiến lược bancassurance của từng ngân hàng, một số ngân hàng chưa đầu tư hoặc dành quá nhiều nguồn lực cho việc kinh doanh bảo hiểm, DNBH cử các đại lý/Chuyên gia bảo hiểm của mình đến ngân hàng để thực hiện bán hiểm. Trong khi ngân hàng có xu hướng làm người giới thiệu khách hàng thì đại lý làm việc tại ngân hàng hoạt động như người thực sự thực hiện việc bán bảo hiểm (sales converters). Điều này đảm bảo việc chốt hợp đồng được diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn.

(3) Mô hình bán hàng toàn thời gian: Nhân viên ngân hàng bán bảo hiểm, các nhân viên ngân hàng được đào tạo để có khả năng bán và tư vấn các sản phẩm bảo hiểm. Các nhân viên kinh doanh được đào tạo đầy đủ về cả sản phẩm và các kỹ năng mềm, và có thể được cấp chứng chỉ bán bảo hiểm như đại lý chuyên nghiệp và có khả năng đánh giá nhu cầu của khách hàng và giới thiệu nhiều sản phẩm có phạm vi rộng hơn. Điều này giúp nhân viên ngân hàng tăng kỹ năng bán hàng và khả năng chốt hợp đồng của nhân viên ngân hàng cũng cao hơn do họ đã có sẵn mối quan hệ với khách hàng.

(4) Mô hình tích hợp: Nhân viên ngân hàng bán bảo hiểm với sự trợ giúp của Chuyên gia bảo hiểm. Theo mô hình này tính các sản phẩm sẽ được bán bởi các nhân viên ngân hàng mà ở đó nhân viên phục vụ khách hàng tại quầy sẽ phối hợp với nhân viên bảo hiểm bên trong. Mô hình này dựa trên các sản phẩm bảo hiểm được kết hợp với các sản phẩm ngân hàng, và được tích hợp với các dịch vụ tư vấn và quản lý tài sản (wealth management) của ngân hàng. Mô hình này được coi là hiệu quả nhất và đảm bảo cho mức độ thâm nhập cao hơn và trải nghiệm khách hàng tốt nhất.

(5) Mô hình Outbound Telemarketing: Nhân viên chủ động gọi cho khách hàng

Mô hình Outbound Telemarketing nhắm mục tiêu vào khách hàng không tới ngân hàng và phụ thuộc đáng kể vào chất lượng cơ sở dữ liệu khách hàng do ngân hàng cung cấp. Mô hình này cung cấp một Up-selling (bán thêm sản phẩm cho khách hàng có sẵn) dài hạn tốt hơn và tiềm năng bán chéo với chi phí thấp.

Phần lớn các DNBH thành công trong bancassurance đều thiết lập hệ thống Chỉ số đánh giá hiệu quả công việc – KPI (Key Performance Indicator) cho các nhân viên bancassurance, trong đó bao gồm các chỉ tiêu như tỷ lệ khách hàng giới thiệu, giá trị hợp đồng, số lượng hợp đồng, tỷ lệ duy trì hợp đồng, tỷ lệ tái tục. Quản lý hiệu quả phân phối của ngân hàng có liên quan chặt chẽ đến chế độ thưởng và chính sách ưu đãi cho cán bộ ngân hàng tham gia bảo hiểm.

Chính vì lý do đó, lựa chọn mô hình phân phối phù hợp là rất quan trọng trong phát triển bancassurance, mô hình và chiến lược cần được đánh giá và phân tích thường xuyên để phù hợp với văn hóa bán hàng của ngân hàng và sự hỗ trợ của công ty bảo hiểm để đảm bảo hiệu quả trong triển khai hợp tác. Bản chất phát triển của hoạt động bancassurance tại các chi nhánh ngân hàng là tạo ra cách thức để thiết lập mô hình phân phối bán lẻ, và hỗ trợ ngân hàng tăng cường khả năng phân phối và kỹ năng bán hàng. Bởi vì khi nhân viên cán bộ ngân hàng tư vấn và bán thành công sản phẩm bảo hiểm thì các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng sẽ trở nên rất đơn giản với họ.

Đẩy mạnh hoạt động marketing, quảng cáo và xúc tiến bán hàng

Hoạt động marketing về bancassurance liên quan đến việc định vị để tăng sự nhận biết về việc tham gia bảo hiểm qua ngân hàng. Chiến lược marketing hiệu quả sẽ quyết định hiệu quả trong triển khai bancassurance bao gồm từ việc quảng bá về hợp tác giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm, ra mắt và triển khai sản phẩm, tăng cường kết hợp khuyến mãi và định vị chiến lược sản phẩm phù hợp nhu cầu khách hàng, đề ra các chương trình quảng bá, khuyến mại cho khách hàng và chương trình thi đua bán hàng trong nội bộ.

Một chiến lược marketing trong bancassurance cần thỏa mãn khách hàng, Kênh đối tác, Sản phẩm, Thương hiệu và quảng cáo như tăng cường điểm tiếp xúc với khách hàng qua trang website, trên internet. Ngoài ra, các chương trình khuyến mãi, xúc tiến bán hàng cần được thiết kế và kích hoạt với phân  khúc khách hàng cụ thể bằng những thông điệp phù hợp, để tăng doanh thu. Các công cụ marketing trực tiếp như bưu phẩm trực tiếp, SMS, thư điện tử là những cách để hút khách hàng nội bộ như tại các ngân hàng đối tác. Các điểm bán hàng, chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng cần có thông tin và hình ảnh tạo sự nhận biết thương hiệu của cả hai bên và thông tin về việc phân phối bảo hiểm tại ngân hàng.

Marketing cũng có thể hỗ trợ các ngân hàng phân phối sử dụng các chương trình giới thiệu khách hàng và các chiến dịch duy trì khách hàng. Nhằm tạo ra tiếng vang và sự nhận biết thương hiệu, marketing lý tưởng cần tạo ra được những tài liệu bán hàng, các công cụ bán hàng và hỗ trợ việc nghiên cứu sản phẩm trước khi phát triển sản phẩm. Cuối cùng, chức năng của marketing là liên kết với ngân hàng phân phối và hướng tới việc quản lý thương hiệu, sự nhận biết thương hiệu, và tất cả các hình thức quản cáo – như quảng cáo truyền hình, quảng cáo ngoài trời.

Marketing lúc nào cũng cần thiết, DNBH và Ngân hàng cần phối hợp để có kế hoạch marketing cụ thể trong đó xác định rõ mục tiêu để tăng nhận biết thương hiệu hay tăng doanh thu bán hàng. Kế hoạch triển khai, ngân sách và thời gian thực hiện đều cần được phê duyệt và có sự đồng thuận của hai bên.

Tăng cường đào tạo kỹ năng và hỗ trợ bán hàng

Đào tạo luôn là yếu tố then chốt giúp bancassurance thành công. Các DNBH phải thường xuyên đào tạo và hỗ trợ bán hàng cho các cán bộ, nhân viên ngân hàng liên tục để đảm bảo kiến thức sản phẩm, quy trình được phổ biến và đặc biệt là việc trang bị các kỹ năng, kinh nghiệm cần có trong hoạt động bảo hiểm cần được chia sẻ thường xuyên và liên tục như: Chương trình cơ bản về bảo hiểm, các khóa đào tạo về kỹ năng bán hàng và kinh nghiệm xử lý từ chối khi khách hàng không có nhu cầu tham gia bảo hiểm, các khóa đào tạo nâng cao để phục vụ khách hàng VIP…..

Việc DNBH phối hợp với các ngân hàng tổ chức chương trình đào tạo cơ bản để trang bị kiến thức về sản phẩm, quy trình, kỹ năng bán hàng, kỹ năng tư vấn, quản lý và huấn luyện cho từng cấp quản lý, cấp thực hiện trong ngân hàng là thực sự cần thiết. Ngoài ra, không chỉ đào tạo hay tổ chức hội thảo mà DNBH cần liên tục cử cán bộ hỗ trợ đào tạo tại chi nhánh/Phòng giao dịch của ngân hàng thường xuyên để nhân viên ngân hàng được  hỗ trợ thực tế khi tư vấn bảo hiểm về kỹ năng bán hàng cá nhân, kỹ năng giới thiệu khách hàng, xác đinh và định vị nhu cầu khách hàng và kỹ năng tìm kiếm thông tin, kỹ năng Quản lý, theo dõi và hỗ trợ bán hàng, kỹ năng quản lý bán hàng theo mục tiêu kinh doanh.

Do đó, DNBH và Ngân hàng cần phân tích nhu cầu đào tạo và xây dựng bản đồ học tập về  bancassurance cho các vị trí làm việc tại ngân hàng phân phối bảo hiểm và lập kế hoạch thời gian đào tạo cụ thể theo nhu cầu của ngân hàng. Không chỉ có vậy, việc đào tạo và hỗ trợ sau đào tạo thường xuyên và liên tục  sẽ giúp nhân viên ngân hàng tự tin khi tư vấn bảo hiểm.

Quy trình phối hợp đơn giản – dễ hiểu và dễ áp dụng

DNBH và ngân hàng phải thống nhất và xác định hệ thống vận hành hoạt động trơn chu, đảm bảo luân chuyển dữ liệu chứng từ tuân thủ yêu cầu của quy trình nghiệp vụ, triển khai nhanh chóng và đồng bộ các giải pháp mà hai bên mong muốn, thanh toán và quyết toán tài chính nhanh và chính xác. Hai bên cùng xây dựng các chương trình và chính sách khách hàng phù hợp với hoạt động chung của ngân hàng để tạo dựng hình ảnh sản phẩm bảo hiểm trong ngân hàng trở nên quen thuộc với khách hàng.

Quy trình cung cấp dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc đẩy mạnh doanh số mà quan trọng nhất là trong việc tạo sự tự tin cho các nhân viên ngân hàng trong phân phối bảo hiểm. Do đó, quy trình đơn giản và nhanh chóng, và cần tích hợp quy trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm tương tự với quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng.  Quy trình đưa ra cần đảm bảo tạo hiệu quả cho việc nhận biết nhu cầu khách hàng và bán hàng, quy trình thẩm định và phát hành hợp đồng cần được tối giản. Ngoài ra, cần nghiên cứu về khả năng tích hợp công nghệ để giản lược các bước không cần thiết trong việc phối hợp giữa các bên.

Do đó, quy trình bán hàng và cung cấp dịch vụ cần được đơn giản hóa, việc hỗ trợ bán hàng như thông tin liên lạc, tích hợp với các hệ thống ngân hàng và quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng, đơn giản hóa quy trình đánh giá rủi ro và xử lý đơn yêu cầu bảo hiểm, đường dây nóng dành cho khách hàng để phản ánh các vấn đề về dịch vụ, và thỏa thuận cam kết dịch vụ: (SLA - Service Level Agreements) là văn bản quan trọng để xác định chất lượng kết quả công việc thực hiện bởi ngân hàng đối tác và công ty bảo hiểm để tạo sự khác biệt và đảm bảo sự hài lòng của đối tác, khách hàng.

Do đó, DNBH và Ngân hàng cần xem xét lại quy trình bán hàng và  tích hợp các sản phẩm bảo hiểm với danh mục khách hàng của ngân hàng, và đảm bảo quy trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm giống với quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng phân phối.

Tóm lại, sẽ không có một “công thức thành công” hay chỉ có “10 hay 100” yếu tố quyết định thành công cho hợp tác và triển khai bancassurance hiệu quả? Bởi điều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vào điều kiện thị trường và vào nỗ lực của cả hai bên Ngân hàng và Bảo hiểm. Chính vì vậy, mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp sẽ có cách lựa chọn và điều chỉnh chiến lược bancassurance riêng của mình để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và nâng cao uy tín doanh nghiệp.

Tuy vậy, cũng như một “cuộc hôn nhân”giữa ngân hàng và bảo hiểm, cần có sự “đồng lòng” của hai bên để cùng phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu chung trên cơ sở thỏa mãn các mục tiêu riêng của doanh nghiệp bảo hiểm, của ngân hàng và hơn cả là làm hài lòng khách hàng –“những thượng đế khó tính” – cần sự chăm sóc của cả hai phía Ngân hàng – Bảo hiểm.

Tài liệu tham khảo

Davis International Banking Consultant (2008).

LIMRA bancassurance report (2009).

Bancassurance – Hiệu quả tới đâu? Nguyễn Quân – Thời báo kinh tế Sài Gòn (2012)

Phát triển kênh phân phối Bancassurance – Xu thế tất yếu trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ giai đoạn hội nhập quốc tế - Phan Hồ Trung (2012)

Bancassurance: a winning formular – Earnst&Young UK, September 2010.

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2010,2011,2012,2013), Số liệu thị trường bảo hiểm Việt Nam

TS. Nguyễn Hữu Hiểu (2009), Tìm hiểu bancassuance dưới góc độ ngân hàng, cổng thông tin điện tử Vietinbank, 2009.

Nguyễn Thu Phương (2009), Bancassurance ở Châu Á, Thái Bình Dương, chờ sự đón nhận tại thị trường Việt Nam, diễn đàn Luật Tài chính, 2009.

Lương Xuân Trường (2006), Bancassurance – cách thức kết hợp các dịch vụ tài chính “ một cửa” hiệu quả, Tạp chí Bảo hiểm số 04/2005, số 01/2006.

Từ khóa: Bancassurance , phân phối bảo hiểm , ngân hàng , kênh bán hàng , doanh nghiệp bảo hiểm , Tổ chức tín dụng , nhu cầu , khách hàng , sản phẩm bảo hiểm Các tin đã đưa Sẽ có 200 triệu giao dịch bằng thẻ vào năm 2015 Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công Nhiều nhà đầu tư nước ngoài "xếp hàng" chờ mua nợ xấu Minh bạch bằng tiêu chí cụ thể Dang tay đón “ngoại lực” để tái cơ cấu ngân hàng yếu kém "Góc khuất" doanh nghiệp FDI Chi phí “bôi trơn” của doanh nghiệp vận tải chiếm khoảng 8% Xu hướng mới của bán lẻ: Mặc cả Muốn sống các doanh nghiệp phải tự cứu mình Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất BIDV hợp tác với Ogilvy&Mather Việt Nam thực hiện dự án Tư vấn xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết "Siêu lừa" Huyền Như: từ ảo mộng đại gia bất động sản đến vành móng ngựa Đến thời điểm huy động vàng chưa? Kiểm soát tốt lạm phát: Nhìn từ quốc tế đến trong nước Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Điều gì đưa đẩy Huyền Như trở thành một “siêu lừa”?

Điều gì đưa đẩy Huyền Như trở thành một “siêu lừa”?

Thứ hai 06/01/2014 09:00

(Tài chính) Một nhân viên ngân hàng, mới ở tuổi 29 mà Huyền Như đã bạo gan đi mượn hàng trăm tỷ đồng lãi suất cao để mua bất động sản khắp nơi. Bất động sản rơi vào “bất động”. Lãi mẹ đẻ lãi con khiến Huyền Như làm liều, đi vào con đường phạm pháp.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Ngày 6/1, Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh sẽ đưa vụ đại án Huỳnh Thị Huyền Như cùng 22 đồng phạm ra trước vành móng ngựa để xét xử về hàng loạt tội danh như: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “cho vay nặng lãi”, “vi phạm quy định về hoạt động cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Vụ án này được dư luận đặc biệt quan tâm. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra như Huyền Như là ai, có ai giúp đỡ hay không mà lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng, tinh vi thế?. Và quan trọng hơn, lý do, nguyên nhân nào đẩy Huyền Như trở thành một “siêu lừa” như thế?...

Huyền Như, xuất phát điểm là cán bộ tín dụng của ngân hàng ngân thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank). Từ năm 2007, khi mới chỉ 29 tuổi thôi nhưng cô gái này đã mạnh dạn mượn tiền của nhiều tổ chức, cá nhân với hàng trăm tỷ đồng để mua đất động sản khắp nơi như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đà Lạt, Quảng Nam, An Giang…

Thời điểm đó, đất đai “sốt xình xịch” nên Huyền Như cứ mải chạy theo lợi nhuận mà quên mất những nguy cơ rủi ro, tiềm ẩn. Đến năm 2010, khi bất động sản đóng băng, thì số tiền hơn 200 tỷ đồng mà Huyền Như vay mượn với lãi suất “khủng” cũng bắt đầu “lãi mẹ đẻ lãi con”.

Đang loay hoay tìm lối ra khi khoản nợ nần ngập đầu thì cái vị trí đang ngồi tại Vietinbank là phó Phòng quản lý rủi ro, quyền Trưởng Phòng Giao dịch Điện Biên Phủ, Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh lại trở thành một “phao cứu sinh”, giải pháp hữu hiệu cho Huyền Như.

Lợi dụng vị trí, chức vụ, quyền hạn đang có, Huyền Như bắt đầu hành trình lừa đảo bằng thủ đoạn làm giả con dấu, giả tài liệu, hồ sơ của các tổ chức cá nhân, câu kết với một số đồng nghiệp, cá nhân khác…

Với thẩm quyền được phê duyệt lệnh chuyển tiền của chủ tài khoản từ ngân hàng đi các đơn vị, doanh nghiệp theo quyết định của chủ tài khoản với mức 50 tỷ đồng/lệnh, Huyền Như bắt đầu hành trình lừa đảo của mình.

Để thực hiện mục đích của mình, Huyền Như đã thuê người đàn ông trên đường Phạm Hồng Thái, gần công viên 23/9, quận 1 làm giả 8 con dấu đứng tên các cơ quan, đơn vị gồm: Vietinbank chi nhánh Nhà Bè, công ty Phúc Vinh, Thịnh Phát, Hưng Yên, An Lộc, Đức Minh Quang, Bảo hiểm toàn cầu, Saigonbank - Berjaya.

Trong thời gian từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2011, Huyền Như đã giả danh Vietinbank chi nhánh Nhà Bè và chi nhánh TP. Hồ Chí Minh để huy động tiền nhằm thực hiện hành vi lừa đảo.

Tuyệt chiêu huy động vốn với mức hưởng lãi suất chênh lệnh cao bằng việc sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của ngân hàng và một số cá nhân đơn vị, Huyền Như đã dễ dàng đưa các con mồi vào bẫy đã giăng sẵn. Một số ngân hàng thông qua các cá nhân và công ty tư nhân để gửi tiền vào Vietinbank chi nhánh Nhà Bè và Vietinbank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đã bị Huyền Như lừa mất trắng cả nghìn tỷ đồng.

Huyền Như sử dụng các con dấu giả này làm giả các chứng từ, hợp đồng và trả lãi suất cao để huy động tiền của các tổ chức cá nhân. Tuy nhiên, hành vi của Huyền Như dù có tinh vi, gian xảo đến mức nào cũng không qua mắt được “lưới” pháp luật. Nhận đơn tố cáo của các cá nhân, tổ chức, cơ quan cảnh sát điều tra vào cuộc. Kết quả điều tra cho thấy, Huyền Như đã thực hiện trót lọt hành vi, chiếm đoạt của 9 công ty, 3 ngân hàng và 3 cá nhân tổng số tiền là 3.982 tỷ đồng. Số tiền chiếm đoạt được, Như trả tiền vay lãi nặng cho 14 cá nhân, trả tiền chênh lệch ngoài hợp đồng cho 9 cá nhân, trả nợ gốc, nợ lãi…

Số tiền trong vụ “đại án” Huyền Như và đồng bọn chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng là quá lớn; tuy nhiên đến nay, số tài sản thu giữ, kê biên được của các bị can chỉ gồm: Các loại tài sản trị giá hơn 624 tỷ đồng, gần 157.000 euro, hơn 4.600USD… Tổng cộng, chưa đến 1.000 tỷ đồng! Còn hơn 3.000 tỷ đồng vẫn chưa biết đã “đi đâu và về đâu”.

Với hàng loạt tội danh, Huyền Như tự biến mình từ một cán bộ có chức vụ, uy tín trong một ngân hàng lớn trở thành kẻ phạm tội và chắc chắn sẽ chịu sự trừng trị thích đáng của pháp luật.

Bất động sản đem lợi cho nhiều người nhưng cũng không ít người “bất động”, điển hình là Huyền Như, bởi cô như con tàu đi trật đường ray. Qua vụ Huyền Như, mới thấm thía câu mà tiền nhân đã dạy: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.

Theo Dantri.com.vn

Từ khóa: lãi suất , bất động sản , Vietinbank , ngân hàng , lừa đảo , lợi nhuận , làm giả con dấu , cho vay nặng lãi Các tin đã đưa Điều gì đưa đẩy Huyền Như trở thành một “siêu lừa”? Một năm phá nhiều chuyên án ma túy lớn Lập công ty ma lừa đảo hàng trăm tỷ đồng Giả cán bộ ngân hàng, "nữ quái" lừa đảo hàng tỉ đồng Hải quan Lao Bảo liên tiếp phát hiện ma túy “Bầu Kiên” bị cáo buộc gây thiệt hại 1.696 tỷ đồng Mất tiền tỉ vì “thông báo tín dụng 60 tỉ đồng”: Dùng giấy giả lừa nạn nhân! Công tác phòng chống ma túy ngành Hải quan: Chủ động phá nhiều chuyên án “Độc chiêu” chiếm dụng cả 120 tỉ đồng tiền thuê nhà của Hợp Nhất – Uniland Bắt giữ 5 xe ô tô vận chuyển hàng lậu Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết Quy định mới được sửa đổi, bổ sung về thuế Giá trị gia tăng Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Những cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam trong năm 2014 Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS