Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình

Tái cơ cấu kinh tế:

Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình

Thứ hai 24/02/2014 14:00

TS. TRẦN DU LỊCH

(Tài chính) Kinh tế Việt Nam bất ổn liên tục kéo dài 5-6 năm nay. Năm 2014-2015, doanh nghiệp (DN) muốn nhìn thấy kinh tế vĩ mô ổn định để tính toán kinh doanh. Bởi bất ổn vĩ mô thì mọi chính sách đều vô nghĩa. Do vậy, mối quan tâm của DN là những chính sách Chính phủ đang thực thi có hiệu quả.

Kinh tế Việt Nam bất ổn liên tục kéo dài 5-6 năm nay. Nguồn: internet

Chuyển biến vĩ mô

Nhìn lại 5-6 năm vừa rồi, Việt Nam trải qua một thời kỳ bất ổn kéo dài mà trung tâm bất ổn là bóng ma lạm phát. Chính vì vậy, tâm lý chung sợ lạm phát dẫn đến chính sách không dứt khoát, khiến DN mất phương hướng. Năm 2014, Chính phủ nêu 4 vấn đề đã được giải tỏa:

Thứ nhất, không để tái lạm phát. Dĩ nhiên lạm phát 6% cũng là lạm phát, nhưng sẽ không tăng cao vì yếu tố ảnh hưởng không còn. Như vậy chúng ta đã chuyển được từ lạm phát bị động sang lạm phát mục tiêu 6-7%.

Thứ hai, nếu một trong những bất ổn lo lắng nhất là ngân hàng thương mại thì hiện khả năng đổ vỡ, mất thanh khoản của các ngân hàng không còn, hiện chỉ còn cục nợ xấu đang tiếp tục xử lý. Chúng ta tin rằng lãi suất cao 15-20%/năm không còn nữa trong điều kiện lạm phát ổn định.

Thứ ba, dù kinh tế khó khăn xuất khẩu vẫn tăng 14-15%, thu được ngoại tệ; kiều hối đạt 11 tỷ USD và năm nay tiếp tục sẽ tăng; giải ngân FDI vẫn giữ bình thường và có thể tốt hơn. Tức có dòng tiền để ổn định tỷ giá.

Thứ tư, mặc dù trong 2 năm qua, nền kinh tế tăng trưởng 2 tốc độ, tốc độ tăng trưởng của DN trong nước thấp nhưng tốc độ DN FDI tăng trưởng tốt, song dù sao chỉ báo FDI cũng cho thấy, môi trường kinh doanh Việt Nam vẫn là môi trường có điều kiện phát triển.

Nói như vậy để thấy, kinh tế vĩ mô 2014 sẽ ổn định, đây là điều kiện tiên quyết để chúng ta tính chuyện mà Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận xét. Theo WB, quá trình hồi phục kinh tế thế giới chưa quá mạnh mẽ nhưng vững chắc hơn, dù rủi ro vẫn còn từ sự điều chỉnh chính sách của các nước giàu.

Chẳng hạn như gói QE3 của Hoa Kỳ, gói Abenomics của Nhật Bản. Để xử lý các vấn đề tài chính, nợ công của châu Âu và xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới theo hướng lãi suất cao hơn, việc tiếp cận tín dụng sẽ khó khăn hơn. Đồng thời, tăng trưởng tiềm năng của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang có xu hướng giảm dần.

WB cho rằng, nếu Việt Nam chỉ sử dụng công cụ chính sách tài khóa và tiền tệ sẽ không xử lý được vấn đề, cơ bản phải là tái cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế. Thực tế, trải qua 6-7 năm liền, chúng ta chỉ sử dụng 2 công cụ tài khóa và tiền tệ, 2 công cụ này không thể giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập và thay đổi tiềm năng được. Do đó, vấn đề hiện nay là phải tập trung tái cơ cấu.

Năm 2015, nền kinh tế phải thay đổi rõ nét 3 việc: tái cơ cấu đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nếu 2 năm tới có kết quả, đó là khởi đầu để tính tới tái cơ cấu chung nền kinh tế. Làm được việc này sẽ tránh kinh tế Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tăng tốc phát triển bền vững hơn.

Đồng bộ các giải pháp

Từ 2 năm nay, tôi kiên trì một mục tiêu là có 3 nhóm chính sách phải xử lý đồng bộ là tài khóa, tiền tệ và điều chỉnh giá dịch vụ công gồm giá điện, giáo dục, y tế. Nếu 3 vấn đề này không đặt trong một phương trình để cùng giải sẽ loại trừ với nhau. Đây là điểm phải làm và tôi thấy Chính phủ cũng đang đặt trong một bài toán để xử lý, đó là giữ lạm phát mục tiêu 6-7%. Bởi 3 nhóm này xử lý đồng bộ sẽ không tăng lạm phát bất thường, từ giá dịch vụ công, không làm tổng cầu tăng.

Riêng về vấn đề thị trường bất động sản, có nhiều ý kiến hỏi rằng có cứu được không? Xin nói rằng, Nhà nước, Chính phủ không thể cứu được thị trường bất động sản và cũng không nên cứu. Chính phủ chỉ có thể hỗ trợ như gói ưu đãi lãi suất 30.000 tỷ đồng cho vay mua nhà. Tất cả chính sách đó tạo nên sự ổn định vĩ mô còn thị trường thì tự điều chỉnh.

Về nợ xấu, hiện có thông tin cho rằng nợ xấu của Việt Nam không dưới 15%. Thật sự tôi không quan tâm nhiều đến con số nợ xấu bao nhiêu %, bởi nếu dùng biện pháp kỹ thuật nợ xấu có thể lên cao. Vấn đề quan trọng là Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã xác định và ai cũng thấy nợ xấu đang là vấn đề lớn phải xử lý. Vấn đề nữa là nợ xấu gây ra 2 việc, làm nghẽn hệ thống tín dụng và là nguy cơ làm đổ vỡ hệ thống ngân hàng, nhưng thời điểm này so với năm 2011-2013 đã cải thiện nhiều.

Theo tôi, DN Việt Nam hiện nay phân thành 3 nhóm. Thứ nhất, những DN không thể nào phục hồi, không kỳ vọng phục hồi, với nhóm này cũng không nên để phục hồi. Thứ hai, (nhóm DN chiếm đa số), trong 3 năm rồi chống chọi được với thị trường, đang tồn tại và cần chính sách hỗ trợ để vượt qua.

Theo thống kê, năm 2013 có 13.000 DN đã vượt qua được, chuyển từ nhóm chống chọi và trở lại phát triển. Nhóm cuối cùng chính là những DN thời gian qua phát triển tốt và hiện nay đang thôn tính các DN khác. Cần nhìn như vậy để có chính sách tái cơ cấu làm lành mạnh hóa nền kinh tế.

Theo saigondautu.com.vn

Từ khóa: nợ xấu , tái cơ cấu , lạm phát , vĩ mô , World Bank , tài khóa , nền kinh tế , dịch vụ công , doanh nghiệp , Chính phủ Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Sự việc cũ, quyết tâm mới?

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước:

Sự việc cũ, quyết tâm mới?

Thứ tư 05/02/2014 10:00

NGUYỄN NGUYỄN KHÁNH LINH - Khoa Tài chính doanh nghiệp (Học viện Tài chính)

(Tài chính) Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là câu chuyện được bàn thảo nhiều trong thời gian qua. Vấn đề này sẽ tiếp tục “nóng” hơn trong năm 2014, khi quyết tâm của Chính phủ và các cấp, ngành sẽ biến thành hành động…

Tái cơ cấu DNNN là giải pháp thay đổi căn bản hệ thống động lực nội sinh và tạo áp lực thị trường đầy đủ đối với DNNN. Nguồn: internet

Chuyển biến mới

Hơn nửa chặng đường của quá trình tái cơ cấu DNNN – một trong 3 trụ cột chính của tái cấu trúc nền kinh tế đã trôi qua. Dù còn ngổn ngang những việc phải làm, nhưng đã có rất nhiều chuyển biến tích cực về mặt số lượng đề án tái cơ cấu được phê duyệt, số DN được tái cơ cấu, khả năng cạnh tranh của các DN từng bước được cải thiện, phù hợp với mục tiêu của đề án… Cũng cần khẳng định, từ năm 2011-2013 là giai đoạn khởi đầu, ngoài việc hoàn thiện, đổi mới và triển khai hàng loạt cơ chế, chính sách thì kết quả ban đầu của tái cơ cấu DNNN là động lực quan trọng cho chặng đường tiếp theo.

Theo báo cáo của Cục Tài chính DN - Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2013, đã có 83/91 tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) xây dựng đề án tái cơ cấu. Trong đó, có 63 DN đã được phê duyệt đề án, gồm 57 DN thuộc Trung ương, 6 DN thuộc địa phương. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 17 DN, gồm: 8 TĐ (Dệt may Việt Nam, Điện lực Việt Nam, Than Khoáng sản Việt Nam, Dầu khí Việt Nam, Hoá Chất, Cao su Việt Nam, Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, Viễn thông Quân đội) và 9 TCT đặc biệt (TCT Giấy, Thuốc lá, Lương thực Miền Bắc, Lương thực Miền Nam, Cà phê, Hàng hải, Hàng không, Đường sắt, Xi măng); Bộ chủ quản phê duyệt 40 DN; UBND cấp tỉnh, thành phố phê duyệt 6 TCT (ngoài ra, UBND các tỉnh, thành phố cũng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 51 Công ty TNHH MTV trực thuộc). Ngoài ra, có 2 TĐ, TCT đã thực hiện cổ phần hoá có vốn nhà nước nắm cổ phần chi phối đã được bộ chủ quản cho ý kiến thông qua nội dung phương án tái cơ cấu là Tập đoàn Bảo Việt và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.

Trong năm 2013, mặc dù dư chấn của cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn ảnh hưởng đến hầu hết các DN nhưng trên 80% DNNN vẫn làm ăn có lãi, chỉ có 11,7% DN thua lỗ. Dù đang trong tiến trình tái cơ cấu, sắp xếp lại bộ máy, nhưng khối DNNN vẫn duy trì mức đóng góp ngân sách nhà nước trong 11 tháng đầu năm chiếm khoảng 32% cho cả năm 2013, cao nhất trong ba khu vực kinh tế.

Hạn chế cũ

Trong ngổn ngang các vấn đề đặt ra cần giải quyết của quá trình tái cơ cấu, những hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả tái cơ cấu cần được nhìn nhận thẳng thắn, khách quan để có hướng giải quyết.

Theo TS. Trần Tiến Cường – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực ban đầu của quá trình tái cơ cấu. Tuy nhiên, những kết quả trên chưa chuyển biến về chất trong cơ cấu tổ chức quản lý điều hành, quản lý tài chính, cũng như chất lượng lao động, cán bộ, năng suất, hiệu quả hoạt động của DN...

Còn chuyên gia kinh tế, TS. Bùi Kiến Thành cho rằng, nhìn vào một số DN đã và đang tái cơ cấu cho thấy, các DN này mới chỉ dừng lại ở việc “sáp nhập lại với nhau một cách cơ học”, chuyển giao DN yếu kém của đơn vị này sang cho đơn vị khác quản lý. “Việc tái cơ cấu thời gian qua mới chỉ là việc “thay một tấm áo mới” cho DN mà quên đi cách làm cho chiếc áo đó phù hợp với thực trạng từng DNNN để phát huy một cách cao độ năng lực cũng như lợi thế riêng vốn có của từng DN” – TS. Bùi Kiến Thành nhấn mạnh.

Thực tế, việc xây dựng, triển khai đề án sắp xếp DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp, cơ quan quản lý vẫn còn chậm trễ. Cơ chế quản lý DNNN chưa theo kịp với thực tiễn hoạt động của các DN. Việc phân tách giữa nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ công ích chưa rõ ràng, minh bạch; Cơ chế đảm bảo cho các DNNN được giao hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực có mức sinh lời thấp mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn hoặc không đủ sức tham gia vào những lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế còn thiếu.

Bên cạnh đó, chức năng đại diện chủ sở hữu còn phân tán, chưa phân định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản của DNNN… Những tồn tại trên là lực kéo không nhỏ khiến cho tiến trình tái cơ cấu, đổi mới DNNN bị chậm trễ.

Quyết liệt hơn trong năm 2014

Trong Thông điệp đầu năm gửi đến nhân dân cả nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Năm 2014, phải kiên quyết thực hiện tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là cổ phần hóa, kể cả các TĐ, TCT; Thoái vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn mà Nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường, bao gồm cả DN đang kinh doanh có hiệu quả. DNNN chỉ tập trung vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng và quốc phòng an ninh. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích. Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu nhà nước. Kiện toàn cán bộ quản lý và nâng cao năng lực quản trị DN. Thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động của DNNN theo quy định của pháp luật. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật và không nghiêm túc thực hiện Đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

Để đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu DNNN, Bộ Tài chính hiện đã hoàn thiện các phương án về các giải pháp thúc đẩy quá trình tái cơ cấu DNNN báo cáo Chính phủ. Theo đó, muốn hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý DNNN cần xây dựng và ban hành Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước. Qua đó, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ nhằm xác định rõ phạm vi, đối tượng, hình thức và thẩm quyền đầu tư vốn nhà nước vào DN; Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 929/QĐ-TTg…

Có thế khẳng định, tái cơ cấu DNNN không phải là để Nhà nước huy động vốn mà là giải pháp thay đổi căn bản hệ thống động lực nội sinh và tạo áp lực thị trường đầy đủ đối với DNNN. Qua đó, tài sản quốc gia được quản lý và sử dụng hiệu quả hơn, tạo thêm nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế.

Tương tự, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành không phải chỉ là để cắt lỗ, giảm lỗ mà là giải pháp sử dụng cơ chế thị trường để phân bổ lại nguồn lực, làm sống lại một bộ phận nguồn lực hiện đang “chết” ở các TĐ, TCT, đưa chúng quay trở lại sản xuất; Đưa bộ phận nguồn lực còn lại đang thua lỗ hoặc sử dụng kém hiệu quả thành các tài sản được sử dụng có hiệu quả hơn. Ðó mới chính là “thoái vốn” ngoài ngành theo đúng tinh thần và nội dung của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Bài đăng trên Tài chính & Đầu tư số 1+2 - 2013

Từ khóa: Tài chính & Đầu tư , tái cơ cấu , doanh nghiệp nhà nước , tập đoàn , tổng công ty , cổ phần hoá , khủng hoảng kinh tế , chủ sở hữu , tài sản , thoái vốn , huy động vốn Các tin đã đưa 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Đẩy mạnh tái cấu trúc hiệu quả thị trường tài chính gắn với tái cơ cấu nền kinh tế Nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái đã định hình trong các năm 2012 - 2013 Tái cơ cấu ngân hàng: Còn nhiều nghi ngại Kiểm toán hoạt động góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn lực Phát triển thị trường bảo hiểm WTO: "thuyền thúng" và "đại dương" FDI có phải là "thần dược" cho Việt Nam? Xu hướng kinh doanh 2014 Thiết lập cơ chế một cửa giải quyết thủ tục đầu tư Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Giải pháp tài chính tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô Ngành Thuế: Tạo động lực quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ thu 2014 Tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2014 (*) EU muốn tạo thêm việc làm trong lĩnh vực kỹ thuật số 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đại án Vinalines và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước

Đại án Vinalines và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước

Thứ bảy 11/01/2014 11:00

Liêm Thanh - Ban Kinh tế Trung ương

(Tài chính) Vụ án tham nhũng tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) tạm thời khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn rất rõ trong dư luận bởi trường hợp này có liên quan tới sai phạm của một doanh nghiệp lớn thuộc Nhà nước. Nhìn nhận về vụ án này, có nhà báo đã nhận xét: Việc kiên quyết phá án cho thấy quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, đem lại niềm tin cho quần chúng nhân dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Bộ trưởng Bộ Công an: Quyết liệt chống tham nhũng, không bỏ lọt tội phạm, không để oan sai

Trả lời phóng viên về vai trò của Bộ Công an trong công cuộc bảo vệ an ninh, nổi lên là cuộc chiến chống tham nhũng, Luật sư Trương Anh Tú, Đoàn Luật sư Hà Nội và Luật sư Trần Viết Hưng, Phó Giám đốc Công ty Luật Trường Sa đều nhận định: Lãnh đạo Bộ Công an đã rất quyết liệt trong công tác chỉ đạo điều tra phá các vụ án, đặc biệt là tham nhũng.

Ngay sau khi Dương Chí Dũng bỏ trốn, Cơ quan CSĐT (Bộ Công an) đã phối hợp với đơn vị chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an), Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Cục Hàng không, các hãng hàng không, bến cảng, hải cảng để phong tỏa việc trốn chạy của bị can trên tất cả các ngả đường, từ đường bộ, đường thủy, đường hàng không… Tại thời điểm đó, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng đã thành lập Ban chuyên án do Đại tá Nguyễn Đức Hiển, Cục phó làm Trưởng Ban để truy bắt "nóng" đối tượng. Cơ quan điều tra Bộ Công an đã kiên trì thuyết phục gia đình, thân nhân của Dương Chí Dũng vận động đối tượng ra đầu thú.

Ngày 18/5/2012, cơ quan điều tra Bộ Công an đã phát Lệnh truy nã đặc biệt số 01/C48-P2 trong toàn quốc, đồng thời phối hợp với tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol) ban hành lệnh truy nã quốc tế đối với Dương Chí Dũng. Tiếp theo, để quyết liệt truy bắt đối tượng, lãnh đạo Bộ Công an đã quyết định thành lập Ban chuyên án cấp Bộ, do Trung tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm làm Trưởng ban, huy động các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an truy bắt đối tượng.  

Lật lại hành trình Dương Chí Dũng bỏ trốn với sự đạo diễn của Dương Tự Trọng cho thấy sự ranh ma của các đối tượng, dùng mọi thủ đoạn để xóa dấu vết đối với cơ quan điều tra, tìm cách trốn sang Campuchia qua cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh rồi từ Campuchia sẽ sang Mỹ.

Khi trả lời chất vấn trước Quốc hội chiều 14/6/2012, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, cho biết “lực lượng Công an đã triển khai rất khẩn trương những biện pháp truy bắt, truy nã đối với Dương Chí Dũng”. 

Tại phiên họp lần thứ 18 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng diễn ra ngày 22/8/2012, sau khi nghe lãnh đạo Bộ Công an báo cáo vụ việc, Trưởng Ban Chỉ đạo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “phải điều tra, truy nã, bắt bằng được bị can Dương Chí Dũng, theo đúng tinh thần tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kỳ ngoại lệ nào”.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an, chỉ sau một thời gian truy bắt, ngày 4/9/2012, cơ quan điều tra Bộ Công an đã bắt được Dương Chí Dũng khi đang lẩn trốn tại Campuchia để đưa về Việt Nam xử lý sau hơn 3 tháng lẩn trốn. Đây là sự kiện làm nức lòng nhân dân cả nước.

Đánh giá về sự kiện bắt giữ được Dương Chí Dũng, ông Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội từng nhận xét: Việc bắt được Dương Chí Dũng là sự cố gắng của các cơ quan điều tra; đây là dấu hiệu tích cực trong việc thực thi pháp luật của chúng ta và nhiều người cũng sẽ thấy yên tâm hơn trước sự vận hành của các cơ quan chức năng nói riêng và của hệ thống thực thi pháp luật nói chung. Dư luận đồng tình và đánh giá cao nỗ lực của cơ quan chức năng. Sự việc này giúp làm sáng tỏ hơn nhận định không có bất cứ cá nhân, tổ chức nào lại nằm ngoài pháp luật cả.

Còn nhà báo-nhà thơ Bùi Hoàng Tám, Báo điện tử Dân trí viết: “Có lẽ người mừng đầu tiên và mừng nhất là lực lượng an ninh. Không mừng sao được khi sau rất nhiều gian nan và vất vả, “cá” đã sa lưới? Không mừng sao được khi việc Dương Chí Dũng bỏ trốn đã gây sự nghi ngờ lộ thông tin trong quần chúng nhân dân và ngay tại nghị trường, đã có đại biểu thẳng thắn đặt câu hỏi có hay không sự lộ bí mật, bao che từ phía lực lượng an ninh? Không thể con sâu làm rầu nồi canh. Không để nhân dân nghi ngờ về cả một lực lượng an ninh sau sự việc này. Người mừng thứ hai là quần chúng nhân dân. Nhân dân mừng không chỉ vì một tên tội phạm bị bắt mà mừng hơn vì đã thấy được quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước”.

Đề cập đến lời khai của Dương Chí Dũng tại Tòa có liên quan đến danh tính một số cán bộ, Luật sư Trần Viết Hưng, Phó  Giám đốc Công ty Luật Trường Sa nói các cơ quan chức năng cần điều tra xác minh thật kỹ, tránh bỏ lọt tội phạm, nhưng cũng không được để oan sai, mất uy tín bất cứ cá nhân nào. Bởi tội phạm thường có diễn biến tâm lý phức tạp, những ai theo dõi hai phiên tòa xét xử anh em Dương Chí Dũng đều có thể thấy, Dương Chí Dũng rất ung dung, tự tại “làm thơ”, bình thản nhận lời tuyên án nghiêm khắc, bởi Dũng nghĩ mọi việc đến đây chưa kết thúc. Đến phiên tòa xét xử em trai là Dương Tự Trọng là cơ hội để cho Dương Chí Dũng tận dụng triệt để tung hỏa mù, khai theo kiểu “trâu lấm vẩy bùn” cho người khác, bắn các viên đạn hiểm ác đến những người mà Dương Chí Dũng cho là kẻ thù và kéo Cơ quan điều tra xuống bùn nhằm kéo dài thời gian vụ án và che giấu tội lỗi.

Không có bất kỳ ngoại lệ nào

Ngày 7/1/2014, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xét xử vụ án “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”. Các bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần này gồm: Dương Tự Trọng (nguyên Phó Giám đốc Công an Hải Phòng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an); Vũ Tiến Sơn (nguyên Phó Trưởng Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, Công an Hải Phòng); Hoàng Văn Thắng (nguyên cán bộ Phòng CSĐT các tội phạm về môi trường, Công an Hải Phòng); Đồng Xuân Phong (nguyên cán bộ Hải quan TP. Hải Phòng, đang bỏ trốn, bị truy nã); Trần Văn Dũng (tên thường gọi là Dũng “Bắc Kạn”, từng bị TAND tỉnh Bắc Thái trước đây, kết án về tội buôn lậu và tàng trữ trái phép chất ma túy); Nguyễn Trọng Ánh (nguyên cán bộ Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, Công an Hải Phòng) và Phạm Minh Tuấn (nguyên Giám đốc Xí nghiệp Bạch Đằng Hải Phòng, bạn thân của Dương Tự Trọng).

Không chỉ vụ án tham nhũng tại Vinalines, trong năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Trần Đại Quang đã cùng tập thể lãnh đạo Bộ quyết liệt triển khai các kế hoạch tấn công tội phạm trên mọi lĩnh vực. Nhiều vụ án đại án tham nhũng lớn tưởng chừng bế tắc nhưng đã được Bộ Công an nhanh chóng kết luận điều tra, sớm đưa ra xét xử, như: Vụ tham nhũng tại Công ty Cho thuê tài chính 2 (thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); vụ lợi dụng chức vụ quyền hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; vụ án kinh tế tại Ngân hàng ACB liên quan đến “bầu” Kiên…

Đây là những bản án công minh, cho thấy sự quyết liệt của Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an trong việc chỉ đạo đấu tranh với tội phạm theo đúng tinh thần Thủ tướng Chính phủ đã quán triệt: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kỳ ngoại lệ nào, khi phạm tội đều bị điều tra xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, phát biểu: “Tôi rất tin lãnh đạo Bộ Công an, đặc biệt là Đại tướng Trần Đại Quang, rất vô tư, khách quan và chỉ đạo nghiêm túc vụ án tham nhũng tại Vinalines. Còn qua việc xét xử các vụ án tham nhũng lớn gần đây tôi thấy hoạt động của bộ máy phòng chống tham nhũng khá quyết liệt, tạo nên hiệu quả như chúng ta đã thấy. Điều đó thể hiện sự quyết liệt và cũng thể hiện cam kết của Đảng, Nhà nước ta về việc tuyên chiến với tham nhũng đã có kết quả”.

Thầm lặng gìn giữ bình yên cuộc sống

Năm 2013, lực lượng Công an đã khám phá 44.033/59.111 vụ phạm pháp hình sự, xử lý 88.259 đối tượng, triệt phá 2.643 băng nhóm tội phạm, đạt 74,49% (cao hơn 1,49% so với năm 2012); kêu gọi đầu thú 1.606 đối tượng truy nã tăng 3,1%, trong đó 2.328 đối tượng nguy hiểm, đặc biệt nguy hiểm (tăng 4,11%). Trong lĩnh vực kinh tế, các lực lượng đã phát hiện 12.138 vụ vi phạm về trật tự quản lý kinh tế, nhiều hơn 518 vụ, phát hiện 435 vụ tham nhũng, nhiều hơn 104 vụ so với 2012. Tội phạm ma tuý, phát hiện 18.384 vụ, 28.534 đối tượng phạm tội, tăng 561 vụ và 2.399 đối tượng, thu giữ 631,29kg heroin và 225,030 kg ma tuý tổng hợp. So với năm 2012, các vụ việc khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, chính trị đã giảm 89,5% số vụ và 30,58% số người tham gia. Kết quả này cho thấy công tác bảo đảm an ninh trật tự đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng với sự phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành, sự ủng hộ của nhân dân, lực lượng Công an phát huy tốt vai trò nòng cốt, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của đất nước.

Là người theo sát diễn biến tình hình an ninh-quốc phòng của Việt Nam trong thời gian qua, Viện sỹ, Tiến sĩ - Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nhận định: “Sau Hội nghị Trung ương 4 khóa XI vừa qua, lực lượng công an nhân dân đã góp phần quan trọng trong công tác đảm bảo, giữ gìn an ninh nội bộ. Đặc biệt là, trong cuộc chiến chống tham nhũng, lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo quyết liệt điều tra xử lý những vụ án trọng điểm được dư luận quan tâm. Việc nhanh chóng giải quyết dứt điểm các vụ án trọng điểm đã góp phần từng bước đẩy lùi được tệ nạn tham nhũng, bước đầu củng cố được niềm tin của các tầng lớp nhân dân, góp phần đảm bảo trong ấm ngoài êm. Bộ trưởng Bộ Công an đã rất quyết liệt trong công tác chỉ đạo điều tra phá các vụ án, đặc biệt là các vụ án tham nhũng”.

PGS.,TS. Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương, nhận định năm 2013, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều nước xảy ra xung đột chính trị, biểu tình phản đối chính quyền, đánh bom liều chết gây mất ổn định xã hội. Trong nước, hội nhập quốc tế đang đi vào chiều sâu, nhưng có sự tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Mặc dù vậy, chính trị và an ninh quốc gia giữ vững được ổn định, trật tự an toàn xã hội vẫn được đảm bảo. So với các nước thì đây là điểm nổi bật nhất của đất nước ta, chúng ta vẫn đảm bảo được trật tự an ninh quốc gia trên tất cả các mặt, an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa… Ngành Công an đã có những đóng góp rất tích cực vào những kết quả đó, đặc biệt là đã phát hiện, điều tra, khởi tố, bắt giam được những tội phạm nguy hiểm, tội phạm tham nhũng lớn, gây bức xúc trong dư luận.

Ông Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, phân tích: Cơ quan điều tra Việt Nam được coi là một trong những cơ quan giỏi nhất thế giới. Quá trình điều tra của Việt Nam rất nhanh. “Khóa trước, chúng tôi làm việc với Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), thì thấy án an ninh quốc gia, giết người cướp của của ta điều tra rất giỏi, vì công cuộc phòng chống tội phạm của ta dựa vào nhân dân”, ông Quyền cho biết.

Là người được gặp trực tiếp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trong lễ ký kết hợp đồng giữa GE Power & Water và Công ty Công Lý, ông Tô Hoài Dân, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT Công ty Công Lý – chủ đầu tư công trình điện gió lớn nhất Việt Nam tại Bạc Liêu, chia sẻ: Ngoại trưởng Mỹ nói đất nước Việt Nam yên bình, việc đi lại của Ngoại trưởng Mỹ trong lãnh thổ Việt Nam rất thoải mái, từ thành thị tới nông thôn mà Ngoại trưởng Mỹ đến thăm và làm việc, không như các nước khác, đi đâu cũng phải chuẩn bị đội ngũ an ninh dày đặc. Ông Dân cũng cho biết, Ngoại trưởng John Kerry có ấn tượng, đánh giá rất tốt về Công an Việt Nam.

Về phía cá nhân, ông Dân nhận định, trong những năm qua tình hình an ninh chính trị của đất nước ổn định đã giúp ông và Công ty làm ăn phát triển. Việc Bộ Công an phá được những vụ án tham nhũng lớn về kinh tế, phá án rất nhanh; những vụ án lớn như vụ Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên), Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng, Huỳnh Huyền Như… đều bị điều tra, truy bắt rất nhanh. “Điều này khiến giới doanh nhân tự phải ý thức được trách nhiệm của mình trong kinh doanh, làm ăn, làm gì cũng phải đúng pháp luật, không ai có thể lọt lưới trời. Tôi rất có cảm tình với Bộ trưởng Bộ Công an, một Giáo sư, Tiến sĩ, Bộ trưởng nho nhã, nói đi đôi với làm, đã hứa là làm, bằng chứng là hứa trước Quốc hội truy tìm bằng được Dương Chí Dũng là phải chỉ đạo quyết liệt truy bắt ngay”, ông Dân chia sẻ.

Đồng tình với ý kiến này, ông Chen Hung Chi, một doanh nhân nước ngoài, Giám đốc Công ty TNHH Young Fast Optoelectronics trong thư cám ơn gửi lãnh đạo Bộ Công an, ông viết “Công an Việt Nam đã đào tạo ra những cán bộ rất giỏi, hoàn thành được những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp nước ngoài, mang lại môi trường an ninh tốt và niềm tin cho chúng tôi. Chúng tôi hy vọng với môi trường an ninh đảm bảo, quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp nước ngoài như chúng tôi được bảo vệ, thời gian tới nhiều doanh nghiệp nước ngoài tìm đến Việt Nam để đầu tư, làm ăn, kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng phát triển”.

Nói về công cuộc chống tham nhũng, nhà báo-nhà thơ Bùi Hoàng Tám bình luận: “Công bằng mà nói, nhìn lại công cuộc phòng chống tham nhũng do Đảng phát động và Luật Phòng chống tham nhũng sau nhiều năm thực hiện vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Những vụ tham nhũng ngày càng nhiều, tinh vi và nghiêm trọng hơn với số tài sản ngày càng lớn. Điều đó khiến quần chúng nhân dân thiếu niềm tin, thậm chí hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng. Đó cũng là thách thức mà lực lượng Công an luôn phải cố gắng để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân”.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: Dương Chí Dũng , Bộ Công An , chống tham nhũng , Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam , Dương Tự Trọng , tội phạm , truy bắt , truy nã Các tin đã đưa Đại án Vinalines và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Tiền lệ xấu cho ngân hàng Lợi dụng chuyển nhượng vốn để trốn thuế Số phận Dương Chí Dũng và vận hạn sếp tập đoàn Làm giả tờ khai để thanh khoản Kiện lãnh đạo doanh nghiệp, cổ đông “bó tay” Chiêu trò bẫy vốn kiểu Huyền Như Các “đại án” sẽ xử đầu năm 2014 Tranh chấp quyền sở hữu bất động sản ngày càng phức tạp Cầm vàng giả lấy tiền tỉ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Thương mại điện tử Việt Nam 2014: Bắt đầu dậy sóng Hoàn thuế đối với hàng sản xuất xuất khẩu Lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm xuống mức nào? Thị trường bất động sản ở Việt Nam năm 2013 và triển vọng năm 2014 Năm 2014, Chi cục Thuế Hương Sơn phấn đấu vượt thu 10% Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công

Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công

Thứ năm 09/01/2014 16:00

TS. Nguyễn Thanh Hoa (Theo Tạp chí Tài chính - Bảo hiểm)

(Tài chính) Bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng) từ lâu đã là kênh bán hàng đầy tiềm năng và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) tại thị trường các nước phát triển. Tại Việt Nam, trong một số năm trở lại đây, kênh phân phối này đã bắt đầu được triển khai tại hầu hết các DNBH và bước đầu đem lại những kết quả khả quan.

Gần đây, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang chuẩn bị ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện bán bảo hiểm qua các Tổ chức tín dụng, tạo điều kiện hợp tác phát triển bán bảo hiểm qua các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là cơ sở pháp lý để tất cả các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp bảo hiểm biết mình được làm những gì, làm như thế nào để bán bảo hiểm qua ngân hàng không phải “vừa làm vừa nghe ngóng” như trước. 

Tuy nhiên, để có thể triển khai bancassurance một cách thành công lại không hoàn toàn đơn giản. Vậy đâu là nguyên nhân, liệu có một “công thức thành công” hay đâu là những yếu tố quyết định thành công trong việc phát triển hợp tác và triển khai bancassurance hiệu quả tại Việt Nam?

Bancassurance – xu thế tất yếu khi tích hợp nhiều lợi ích

Bancassurance không phải là một khái niệm mới tại thị trường Việt Nam và có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, đơn giản đó là việc phân phối sản phẩm bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng. Bancassurance phát triển đầu tiên ở Mỹ và các nước Châu Âu. Hiện nay, Bancassurance là một trong những kênh phát triển nhanh nhất ở hầu hết thị trường châu Á, đồng thời là kênh phân phối hàng đầu trong thị trường bảo hiểm này. Tại Việt Nam, Bancassurance đã bắt đầu phát triển trong 10 năm trở lại đây, tuy nhiên, để thực sự chỉ ra một điển hình thành công trong mô hình phân phối này thì chưa thực sự có một điển hình thành công nào thực sự nổi bật.

Bancassurance - Hiểu thế nào cho đúng?

Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu về Bancassurance, ví dụ như:       

Theo định nghĩa của LIMRA, Bancassurance là “một chiến lược được các ngân hàng hoặc các DNBH sử dụng nhằm hoạt động trong thị trường tài chính theo cách thức hợp nhất dịch vụ ở mức độ phù hợp.” Theo cách hiểu của Remark thì Bancassurance là việc “ngân hàng và DNBH hợp tác với nhau để phát triển và phân phối một cách có hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng”.

Trên thực tế Bancassurance có thể hiểu một cách đơn giản nhất đó là một chiến lược được các ngân hàng hoặc các DNBH sử dụng nhằm hoạt động trong thị trường tài chính theo cách thức hợp nhất dịch vụ ở một mức độ nhất định. Một triết lý chung của bancassurance chính là sự kết hợp của khả năng phát triển sản phẩm và văn hóa bán hàng của các DNBH với mạng lưới phân phối và cơ sở khách hàng rộng lớn của các ngân hàng.

Tóm lại, Bancassurance được hiểu là việc ngân hàng và DNBH cùng hợp tác để phát triển và phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng-bảo hiểm cho cùng một cơ sở khách hàng. Bancassurance có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là việc các ngân hàng tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình. Việc tham gia của ngân hàng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ theo hình thức hợp tác triển khai bancassurance mà hai bên cam kết thỏa thuận.

Bancassurance – Vì sao hấp dẫn?

Bancassurance hấp dẫn vì thỏa mãn nhu cầu của tất cả các bên liên quan: khách hàng, ngân hàng và công ty bảo hiểm.

Đối với khách hàng, nhu cầu của khách hàng thường được thỏa mãn khi họ được tiếp cận tới một tổ chức “một cửa” cung cấp các dịch vụ tài chính. Ngoài tiền gửi, vay và các giao dịch thường xuyên, khách hàng ngày nay còn được bảo vệ khỏi các rủi ro trong cuộc sống do được tham gia các hợp đồng bảo hiểm với mức phí hợp lý và được cả DNBH và ngân hàng chăm sóc. Bancassurance giúp ngân hàng hoàn thiện vòng quay nhu cầu của khách hàng bằng việc đáp ứng đầy đủ 4 nền tảng dịch vụ chủ chốt: Cho vay, Giao dịch, Đầu tư, và Bảo vệ (Bảo hiểm)

Đối với Ngân hàng, việc phân phối sản phẩm bảo hiểm sẽ giúp củng cố lòng trung thành và tăng sự gắn bó của ngân hàng và khách hàng vì các sản phẩm bảo hiểm có kỳ hạn dài hơn các mức gửi tiết kiệm hay các khoản vay ở tại ngân hàng; giúp ngân hàng trở thành một “siêu thị tài chính một cửa” cung cấp các dịch vụ trọn gói, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng, và đa dạng hóa sản phẩm, tạo thêm nguồn thu từ hoa hồng cho ngân hàng và nhân viên ngân hàng.

Đối với Công ty bảo hiểm, bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, đây là một kênh phân phối phức tạp, có khả năng mở rộng và hiệu quả, giúp gia tăng thị phần và doanh thu,  tiếp cận thêm với nguồn khách hàng mới của ngân hàng và tạo ra giá trị thương hiệu từ việc hợp tác liên kết (co-branding) với các ngân hàng.

Có thể nói rằng Bancassurance hấp dẫn bởi mang lại lợi ích, sự tiện lợi và làm thỏa mãn tất cả các bên tham gia: Khách hàng – Ngân hàng và Công ty bảo hiểm.

Bancassurance – Xu thế tất yếu?

Trên thế giới, bancassurance đã và đang nổi lên như một kênh phân phối chính cho các DNBH. Hoạt động Bancassurance có nhiều hình thức khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới tùy theo môi trường luật pháp, kinh tế và yếu tố về nhân khẩu học của từng quốc gia. Yếu tố nhân khẩu quyết định sản phẩm Bancassurance, tình hình kinh tế quyết định xu hướng về doanh số, thị phần,…trong khi đó môi trường pháp luật sẽ xác định phạm vi hoạt động Bancassurance. Ở hầu hết các nước đang phát triển, việc bán bảo hiểm qua ngân hàng đã phát triển nhanh hơn tất cả các kênh phân phối khác và tỷ lệ thâm nhập của bancassurance tại các thị trường có xu hướng ngày càng tăng.

Trong khu vực, theo ghi nhận tại Hội nghị Châu Á lần thứ 14 về “Bancassurance và kênh phân phối tiềm năng” vừa được tổ chức tại Indonesia, các chuyên gia trong lĩnh vực này cho biết, Bancassurance là một trong những kênh phát triển nhanh nhất ở hầu hết các thị trường tại Châu Á, đồng thời là kênh phân phối hàng đầu trong nhiều thị trường tại khu vực này. Tính đến nay, tỷ lệ đóng góp doanh thu phí bảo hiểm Bancassurance của các DNBHnhân thọ tại Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông đã tăng lên hơn 50% so với mức 10% so với năm 2000. Đặc biệt, với thị trường có xuất phát điểm là 0% vào năm 2000 như Thái Lan, thì đến năm 2012, tỉ lệ đóng góp doanh thu phí bảo hiểm Bancassurance cho các DNBH nhân thọ tại đây cũng đã lên đến hơn 43%.

Tại Việt Nam, trong thời gian qua, các doanh nghiệp bảo hiểm đã tích cực phối hợp với các ngân hàng thương mại tham gia phát triển mạnh mẽ kênh phân phối Bancassurance. Ngoài ra, Bancassurance đang trở thành một trào lưu và xu hướng tất yếu để các ngân hàng trong nước tìm tới một nguồn thu bổ sung bền vững và an toàn, thay vì dựa vào hoạt động tín dụng nhiều vốn, rủi ro cao. Những DNBH đang phát triển mạnh kênh phân phối này tại thị trường Việt Nam hiện nay là Bảo Việt, Prudential, Manulife, Prevoir, VCLI, Vietin-Aviva…

Các DNBH khác như Dai-ichi Life Việt Nam, ACE Life, AIA Việt Nam, Great Eastern, Hanwha Life… cũng đã vào cuộc và ký kết hợp tác với các ngân hàng khác nhau. Các dòng sản phẩm bảo hiểm tai nạn, sức khỏe con người, Bảo hiểm du lịch toàn cầu, Bảo hiểm hỗ trợ viện phí, Bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm nhà, bảo hiểm tín dụng tiêu dùng, bảo hiểm tài sản cầm cố thế chấp… ngày càng được phát triển đa dạng đã và đang được các doanh nghiệp phối hợp cung cấp cho  khách hàng và cũng đã được thị trường đón nhận.

Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam sau một thời gian triển khai kênh phân phối sản phẩm này đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ, doanh thu phí bảo hiểm từ kênh Bancassurance đã không ngừng tăng lên. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các thỏa thuận hợp tác mới giữa doanh nghiệp bảo hiểm và Ngân hàng đã chứng minh cho sự phát triển nhanh chóng của xu hướng này.

Từ việc chỉ ký kết hợp tác mang để “truyền thông” và đánh bóng thương hiệu, thì gần đây hoạt động bancassurance đã đi vào chiều sâu và thực chất bằng việc doanh thu bancassurance ngày càng tăng lên và việc hình thành các DNBH– là các công ty con trực thuộc các ngân hàng và phân phối sản phẩm bảo hiểm qua các ngân hàng như BIC-BIDV, VCLI-Vietcombank, Bảo Ngân, AVIVA-Vietinbank, ABIC-Agribank.

Không chỉ xuất hiện ở phân khúc thị trường bảo hiểm nhân thọ, hiện nay tại phân khúc thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, kênh Bancassurance còn phát triển với tốc độ nhanh hơn và đang được đánh giá là thành công hơn so với khối bảo hiểm nhân thọ do sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ thường đơn giản, dễ bán hơn. Mặt khác, các ngân hàng cũng tỏ ra “chuộng” các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ để bảo vệ vốn vay cho chính ngân hàng.

Bảo Việt được biết đến như một trong những đơn vị tiên phong trong hợp tác bancassurance trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ với các ngân hàng uy tín như HSBC, Techcombank, Maritime Bank…và đã đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận. Năm 2012, Bảo hiểm Bảo Việt đạt 140 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc từ bancassurance so với năm 2011, và dự kiến năm 2013, Bảo hiểm Bảo Việt sẽ đạt khoảng 180 tỷ đồng doanh thu, với mức tăng trưởng tương đương 28,5% so với năm 2012.

Với Bảo Việt Nhân thọ, tốc độ tăng trưởng doanh thu phí khai thác mới luôn cao hơn 200%/năm và đã cùng các ngân hàng nghiên cứu, triển khai nhiều dòng sản phẩm kết hợp “ngân hàng-bảo hiểm” mang thương hiệu Bảo Việt có uy tín trên thị trường như “An Tâm Bảo Tín”, “An Tâm Tiết Kiệm” (qua Ngân hàng Techcombank), bảo hiểm “Tình yêu cho con”, và các dòng sản phẩm kết hợp qua Ngân hàng Bảo Việt cũng mang lại hiệu quả và nguồn thu đáng ghi nhận trong những năm vừa qua.

Bancassurance – yếu tố quyết định thành công

Triển khai và phát triển bancassurance luôn là một thách thức, dù ở thị trường đã phát triển hay thị trường tiềm năng. Tuy nhiên, nếu thành công, bancassurance có khả năng giúp DNBH thiết lập một công cụ phân phối rộng lớn với chi phí hợp lý. Vì vậy, để có thể triển khai kênh phân phối này hiệu quả, cần có sự đầu tư nguồn lực tập trung vào bancassurance từ cả hai phía: DNBH và ngân hàng.

Tuy nhiên, thực tế triển khai bancassurance cho thấy, việc phát triển bancassurance một cách hiệu quả và thành công không đơn giản do có những yếu tố cản trở sự phát triển của bancassurance như: không có định hướng hay chiến lược phát triển bancassurance của ngân hàng và công ty bảo hiểm, thiếu sự hỗ trợ và cam kết từ phía ngân hàng, sản phẩm và quy trình không phù hợp và phức tạp, khó khăn trong việc tư vấn bảo hiểm, thiếu nhân lực chất lượng cao và có kinh nghiệm trong triển khai bancassurance, văn hóa và kỹ năng tư vấn bảo hiểm của nhân viên ngân hàng chưa chuyên nghiệp và chủ động, hiểu biết về sản phẩm và quy trình bảo hiểm còn hạn chế, phân bổ và cơ chế hoa hồng chưa tạo được động lực và thu hút nhân viên ngân hàng.

Bên cạnh đó, các rủi ro về thương hiệu khi kết hợp hình ảnh giữa ngân hàng và DNBH cũng là vấn đề được quan tâm trong bối cảnh hiện nay khi các ngân hàng phần lớn đều gặp khó khăn ở các mảng kinh doanh.

Để triển khai bancassurance thành công phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vì vậy, để có thể tận dụng được lợi thế về chi phí và quy mô của mô hình phân phối này, cần có sự nghiên cứu và đúc kết các kinh nghiệm thực tế về những yếu tố quyết định thành công trong hợp tác và triển khai bancassurance như sau:

Hoạch định chiến lược và định hướng phát triển bancassurance rõ ràng

Bancassurance muốn thành công, cần có chiến lược và định hướng phát triển rõ ràng. Bởi vì, Bancassurance khó có thể thành công khi DNBH và ngân hàng không xây dựng chiến lược và lộ trình triển khai, đầu tư nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác bài bản, phù hợp với điều kiện mỗi bên và điều kiện thị trường.

Chính vì vậy, DNBH và ngân hàng cần thống nhất lộ trình và bước đi phù hợp để xây dựng mô hình hợp tác. Với công ty bảo hiểm, chiến lược phát triển bancassurance có thể nhằm tăng doanh thu, thúc đẩy tăng thị phần, đặc biệt là tạo ra kênh phân phối thay thế các kênh phân phối truyền thống trong bối cảnh thị trường đang ngày càng cạnh tranh như hiện nay. Trong bối cảnh của cơn lốc suy thoái kinh tế, các DNBH đã học được cách thích nghi với thị trường.

Hầu hết các DNBH phi nhân thọ đều có chính sách tận dụng triệt để kênh bán lẻ để phân phối những sản phẩm bảo hiểm đáp ứng xu hướng của khách hàng. Để đẩy mạnh doanh thu, bán lẻ chính là chiến lược của nhiều DNBH phi nhân thọ và bancassurance là một lựa chọn cho hướng đi bán lẻ của DNBH đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.

Tương tự với Ngân hàng, trong bối cảnh kinh doanh khó khăn và tỷ lệ nợ xấu ngày càng cao như hiện nay, việc triển khai thêm các sản phẩm bảo hiểm vừa giúp ngân hàng tăng thêm doanh thu từ hoa hồng bảo hiểm, vừa tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao chất lượng tư vấn và dịch vụ khách hàng. Chiến lược phát triển của ngân hàng, định vị khách hàng mục tiêu tập trung vào khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp sẽ giúp DNBH lựa chọn và hoạch định chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của ngân hàng và khách hàng.

Đối với Bảo Việt, đến năm 2015, mục tiêu phát triển bancassurance trong lĩnh vực bảo hiểm được định hình khá rõ trong chiến lược phát triển kinh doanh của mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ nên có sự đầu tư nguồn lực và ưu tiên phát triển cho lĩnh vực này. Chiến lược phát triển bancassurance và định hướng triển khai bancassurance cần được gắn vào chiến lược kinh doanh chung của DNBH và ngân hàng để đảm bảo cùng hướng đến mục tiêu chung và đầu tư cho tương lai của kênh phân phối mới.

Cam kết hợp tác chặt chẽ, lâu dài và thường xuyên từ các cấp

Một trong những thất bại từ hoạt động bancassurance là do cam kết hợp tác không được duy trì đều đặn và thường xuyên. Cam kết hợp tác không chỉ hiểu là cam kết từ cấp lãnh đạo cao nhất (Hội đồng Quản trị hay Tổng Giám đốc) mà còn ở các cấp hợp tác cấp Khối, Phòng, Ban…cụ thể như sau:

Cam kết có thể được thể hiện qua các hình thức ký hợp đồng phân phối hàng năm, ký giao ước thi đua quy định chỉ tiêu hàng năm giữa DNBH và ngân hàng cũng như của ngân hàng với từng chi nhánh. Ngoài, các bộ phận/các cấp cần có sự liên lạc, trao đổi thông tin thường xuyên, lãnh đạo cần gặp gỡ, đưa ra định hướng phát triển theo quý, hoặc theo tháng và cập nhật tình hình kinh doanh.

Các nhân viên kinh doanh, đại lý và chuyên gia bảo hiểm của DNBH phải thường xuyên thăm hỏi, động viên và hỗ trợ kinh doanh tại các chi nhánh/điểm giao dịch của Ngân hàng. Đồng thời, cần có những cuộc họp của hai bên, các cấp để trao đổi và rút kinh nghiệm trong triển khai để việc hợp tác có hiệu quả. Nhiều đơn vị thực hiện ký kết hợp tác nhưng sau đó, không có sự duy trì quan hệ thường xuyên từ các cấp triển khai dẫn đến hiệu quả hợp tác không cao và sau đó không phát triển được bancassurance.

Đối với Bảo Việt, để có thể hợp tác bancassurance hiệu quả DNBH và Ngân hàng cùng triển khai thành lập tổ dự án hợp tác bancassurance và Bảo Việt đã thành lập và đầu tư nguồn nhân lực tốt cho Phòng Bancassurance chuyên trách về hoạt động bancassurance một cách hiệu quả và chuyên nghiệp để triển khai, theo dõi, giám sát có hiệu quả hoạt động phân phối bảo hiểm tại các ngân hàng. Quan hệ đối tác và điều phối hoạt động, triển khai hoạt động được thực hiện đồng bộ. Hai bên cần cam kết và kiên trì định hướng bán hàng hướng tới nhu cầu thể hiện trong tất cả các khâu: Thiết kế sản phẩm, chào phí, tư vấn bán hàng, phát hành quản lý hợp đồng, giải quyết bồi thường và dịch vụ sau bán hàng.

Xác định mô hình hợp tác phân phối phù hợp

DNBH và ngân hàng cần thống nhất mô hình phân phối có lợi cho cả hai bên, trong đó quy định rõ ràng về sản phẩm hợp tác, quy trình phối hợp, chia sẻ lợi nhuận, chia sẻ cơ sở khách hàng, sự hỗ trợ và nguồn lực trong thời gian thỏa thuận trên cơ sở cân nhắc tới các yếu tố như mức độ cam kết từ đối tác; mạng lưới, năng lực phân phối sản phẩm, thương hiệu…Cam kết hợp tác của hai bên càng cao thì mô hình hợp tác phân phối sản phẩm càng sâu rộng và dài hạn.

Có rất nhiều cách khác nhau để xác định mô hình hợp tác phân phối giữa các DNBH và  ngân hàng. Cơ bản nhất là các Thỏa thuận Phân phối (Distribution agreement - ngân hàng phân chỉ phối sản phẩm bảo hiểm (sản phẩm liên kết hoặc sản phẩm bảo hiểm truyền thống) và hưởng hoa hồng, sau đó là Thỏa thuận Liên minh Chiến lược (Strategic Alliance – ngân hàng và DNBH sẽ hợp tác sâu hơn và mức độ chia sẻ thông tin hợp tác cao hơn) và cao nhất là Thỏa thuận Độc quyền (Exclusive Arrangement - hai bên sẽ có thỏa thuận rõ ràng về quyền sở hữu chung đối với sản phẩm và khách hàng.

Loại thỏa thuận này đòi hỏi hai bên đối tác có cam kết hợp tác bền vững lâu dài, và vì vậy, có thể thấy sẽ có sự đầu tư vào bán hàng, marketing, công nghệ thông tin, v.v). Ngoài ra, ngân hàng và DNBH có thể liên doanh thành lập DNBH mới để cơ sở khách hàng được chia sẻ hiệu quả giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm. Hoặc các ngân hàng có thể thành lập DNBH riêng để thiết kế, triển khai và phân phối sản phẩm bảo hiểm trong hệ thống của mình.

Tùy điều kiện và khả năng hợp tác, DNBH và ngân hàng sẽ lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp, khi bắt đầu thiết lập quan hệ hợp tác để tìm hiểu nhu cầu hai bên có thể ký thỏa thuận phân phối trong ngắn hạn, sau đó, sẽ nâng cấp lên mức độ cao hơn.

Cụ thể như tại thị trường Việt Nam, vừa qua, Prudential và Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) đã ký kết hợp đồng phân phối độc quyền sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại ngân hàng này sau 2 năm quan hệ phân phối bảo hiểm qua MSB. Thỏa thuận hợp tác độc quyền sẽ là mục tiêu cho tất cả các quan hệ đối tác muốn hướng đến. Hoặc xu hướng như các DNBH được thành lập từ các ngân hàng lớn như ABIC, Bảo Ngân, BIC, Vietcombank Cardif…tạo ra một thị trường bancassurance thực sự sôi động tại Việt Nam thời gian vừa qua.

Kế hoạch và mục tiêu triển khai cụ thể, cơ chế hợp tác rõ ràng

Chiến lược phát triển bancassurance đã được hoạch định, cam kết hợp tác của ngân hàng và DNBH cao, mô hình phân phối đã được định vị rõ ràng nhưng nếu không có mục tiêu và kế hoạch triển khai cụ thể cho từng giai đoạn thì việc hợp tác bancassurance khó khả thi.

Vì lẽ đó, mục tiêu, kế hoạch và lộ trình triển khai cần được hoạch định và tuân theo kế hoạch kinh doanh của ngân hàng và DNBH theo tháng, quý, và hàng năm. Ví dụ: năm 2011, tập trung phân phối bảo hiểm phi nhân thọ cho khối khách hàng cá nhân của Ngân hàng; năm 2012, triển khai 3 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho khối khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng và triển khai thí điểm mô hình Chuyên gia bảo hiểm cho các dòng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống tại Miền Bắc, năm 2013, tập trung phân phối bảo hiểm cá nhân cho khách hàng VIP của ngân hàng…

Nguồn lực, thời gian, chi phí cần được chi tiết hóa và có cam kết của hai bên. Ngoài ra, cần xác định doanh thu và giao KPIs cho từng chi nhánh, cán bộ kèm cơ chế thưởng phạt rõ ràng để có thẩy thúc đẩy triển khai bancassurance hiệu quả và phân rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên. Cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin cũng cần được quy định rõ và nếu các đơn vị không hoàn thành kế hoạch đã giao sẽ cần được hỗ trợ nhiều hơn để có thể thúc đẩy hợp tác hiệu quả.

Tóm lại, muốn triển khai bancassurance thành công, DNBH  và  Ngân hàng cần rõ mục tiêu và kế hoạch phát triển cũng như có  kế hoạch triển khai sản phẩm, marketing, đào tạo và hỗ trợ bán hàng với nguồn lực  phù hợp và hoàn thành được kế hoạch kinh doanh đã đặt ra với thời gian thực hiện cụ thể, rõ ràng.

Lựa chọn nhân sự đủ năng lực và “đam mê” Bancassurance

Con người là yếu tố quan trọng và luôn được coi là yếu tố quyết định thành công trong bất kỳ dự án nào. Với DNBH, những cán bộ và quản lý bancassurance cần là những người tâm huyết, nhiệt tình và bởi bancassurance là chiến lược lâu dài, kênh phân phối này cần nguồn lực có kỹ năng cao, thể hiện được niềm đam mê và cam kết với công việc ngoài những kiến thức về bảo hiểm và ngân hàng và các kỹ năng cần thiết để giao tiếp, tư vấn và bán bảo hiểm hoặc hỗ trợ bán hàng.

Với ngân hàng, yếu tố con người càng quan trọng bởi doanh thu từ bancassurance thường không lớn so với tỷ trọng doanh thu mang lại từ hoạt đông ngân hàng nên việc phân bổ nguồn lực và cán bộ/bộ phận điều phối bancassurance là vô cùng quan trọng. Chính họ sẽ là nhân tố mang lại thành công để điều phối, theo dõi giao chỉ tiêu và khắc phục các khó khăn trong triển khai bán bảo hiểm tại ngân hàng.

Ngoài ra, các cán bộ kinh doanh của Ngân hàng cũng cần được trang bị kỹ năng về sản phẩm bảo hiểm, kỹ năng tư vấn và thuyết phục khách hàng hoặc được cấp chứng chỉ phân phối bảo hiểm. Các vị trí và mô hình tổ chức trong bộ phận bancassurance tại ngân hàng và DNBH cần được phân định rõ và lựa chọn “đúng người, đúng việc” để triển khai bancassurance hiệu quả.

Từ đó, DNBH và Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ có năng lực và kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết “làm đầu mối”  và  hệ thống tổ chức bộ phận/phòng ban chức năng về bancassurance để điều phối và thúc đẩy việc triển khai bancassurance tại Ngân hàng.

Lựa chọn sản phẩm bảo hiểm đơn giản, phù hợp nhu cầu của ngân hàng và khách hàng

Sản phẩm được coi là yếu tố quan trọng nhất để triển khai bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Có hai điểm cần được quan tâm  trong lựa chọn sản phẩm để phân phối qua kênh bancassurance:

Một là, sản phẩm phải đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu và đảm bảo nhân viên  ngân hàng vốn đã rất bận rộn vẫn có thể nắm  được,  những dòng sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cá nhân như bảo hiểm ôtô, xe máy, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn, hoặc những dòng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ của bảo hiểm nhân thọ như bảo hiểm cho người đi vay, bảo hiểm cho người gửi tiền hoàn toàn đáp ứng được việc triển khai cho bộ phận khách hàng cá nhân của ngân hàng với số lượng lớn và doanh thu phí ở mức thấp.

Những dòng sản phẩm này chủ  yếu được ngân hàng ưa chuộng trong thời gian hợp tác ban đầu hoặc mới triển khai bancassurance để nâng cao  nhận thức của cán bộ ngân hàng và nhân viên ngân hàng về việc phân phối và tham gia bảo hiểm tại ngân hàng. Thậm chí, nhiều ngân hàng có thể mua làm quà tặng như một chương trình khuyến mại cho khách hàng. Các sản phẩm bảo hiểm con người, sức khỏe, tai nạn, xe cơ giới bán qua ngân hàng sẽ phù hợp và đem lại sự thuận tiện cho khách hàng. Xuất phát từ nhu cầu khách hàng, hai bên có thể trao đổi và thiết kế những dòng sản phẩm chung thỏa mãn nhu cầu của khách hàng với dịch vụ ngân hàng kết hợp bảo hiểm khi gửi tiết kiệm, khi đi vay.

Hai là, mục tiêu của ngân hàng và DNBH cuối cùng vẫn là hiệu quả kinh doanh hay nói cách khác là phải “có lãi”, muốn như vậy, sản phẩm phải có giá trị cao để giúp ngân hàng thu được doanh thu từ hoa hồng hợp lý đảm bảo vốn đầu tư cho bancassurance cả về nhân lực và cơ sở vật chất. Những sản phẩm có thể có giá trị lớn và hoa hồng cao là những  gói bảo hiểm cho khách hàng  doanh nghiệp như tòa nhà, trụ sở, tàu, hàng không hoặc những hợp đồng  bảo hiểm nhân thọ truyền thống được phân phối qua ngân hàng.

Muốn thành công trong phân phối sản phẩm bảo hiểm của ngân hàng cần có kế hoạch và chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với chiến lược và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Hơn nữa, một điều quan trọng là cơ chế hoa hồng qua ngân hàng cũng được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh xung đột với kênh đại lý hoặc cơ chế lương, thưởng của ngân hàng. Việc này rất khó và các ngân hàng thường phân bổ hoa hồng để tạo động lực cho nhân viên ngân hàng bán sản phẩm hoặc đề ra chỉ tiêu bán bảo hiểm hoặc triển khai các chương trình thi đua khuyến khích bán hàng.

Một số yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi phát triển các sản phẩm cho bancassurance đó là: thỏa thuận về sản phẩm phân phối, tài liệu tóm tắt về sản phẩm và tài liệu hướng dẫn bán hàng đơn giản, sản phẩm được thiết kế riêng biệt cho ngân hàng, kết hợp thương hiệu (Co-branded) cho ngân hàng, sản phẩm được quảng cáo tại quầy của ngân hàng, phí bảo hiểm phù hợp. Ngân hàng cùng DNBH hoạch định chiến lược phát triển sản phẩm dựa trên nhu cầu của khách hàng, có thể kết hợp thương hiệu (co-branding) hoặc tạo ra dòng sản phẩm độc quyền triển khai qua ngân hàng để tạo  sự khác biệt và hấp dẫn khách hàng hơn.

Lựa chọn chiến lược phát triển sản phẩm liên kết (ngân hàng – bảo hiểm) để tăng số lượng khách hàng hoặc lựa chọn các sản phẩm bảo hiểm truyền thống để phân phối qua ngân hàng giúp tăng doanh thu nhanh chóng sẽ là yếu tố tiên quyết giúp xác định bancassurance sẽ thành công hay thất bại. Sản phẩm/dịch vụ của DNBH phân phối qua ngân hàng cần đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng  và nhu cầu của ngân hàng.

Lựa chọn mô hình và phương thức phân phối sản phẩm phù hợp

Lựa chọn sản phẩm phù hợp để phân phối qua ngân hàng, nhưng nếu không lựa chọn được mô hình phân phối phù hợp để triển khai sản phẩm thì sẽ không thể thành công. Mỗi mô hình và phương thức phân phối sẽ có ưu và nhược điểm riêng nhưng tựu chung lại cần phù hợp với đặc điểm của thị trường.

Có thể phân định được 5 mô hình kinh doanh cơ bản dành cho phân phối bảo hiểm qua ngân hàng, bao gồm:

(1) Mô hình giới thiệu: Nhân viên ngân hàng giới thiệu khách hàng cho Chuyên gia bảo hiểm bán và hưởng hoa hồng giới thiệu. DNBH qua mô hình này có thể tiếp xúc với nguồn khách hàng tiềm năng là khách hàng của Ngân hàng thay vì phải tự đi tìm kiếm khách hàng trên thị trường.

(2) Đại lý bảo hiểm làm việc tại ngân hàng: Tùy chiến lược bancassurance của từng ngân hàng, một số ngân hàng chưa đầu tư hoặc dành quá nhiều nguồn lực cho việc kinh doanh bảo hiểm, DNBH cử các đại lý/Chuyên gia bảo hiểm của mình đến ngân hàng để thực hiện bán hiểm. Trong khi ngân hàng có xu hướng làm người giới thiệu khách hàng thì đại lý làm việc tại ngân hàng hoạt động như người thực sự thực hiện việc bán bảo hiểm (sales converters). Điều này đảm bảo việc chốt hợp đồng được diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn.

(3) Mô hình bán hàng toàn thời gian: Nhân viên ngân hàng bán bảo hiểm, các nhân viên ngân hàng được đào tạo để có khả năng bán và tư vấn các sản phẩm bảo hiểm. Các nhân viên kinh doanh được đào tạo đầy đủ về cả sản phẩm và các kỹ năng mềm, và có thể được cấp chứng chỉ bán bảo hiểm như đại lý chuyên nghiệp và có khả năng đánh giá nhu cầu của khách hàng và giới thiệu nhiều sản phẩm có phạm vi rộng hơn. Điều này giúp nhân viên ngân hàng tăng kỹ năng bán hàng và khả năng chốt hợp đồng của nhân viên ngân hàng cũng cao hơn do họ đã có sẵn mối quan hệ với khách hàng.

(4) Mô hình tích hợp: Nhân viên ngân hàng bán bảo hiểm với sự trợ giúp của Chuyên gia bảo hiểm. Theo mô hình này tính các sản phẩm sẽ được bán bởi các nhân viên ngân hàng mà ở đó nhân viên phục vụ khách hàng tại quầy sẽ phối hợp với nhân viên bảo hiểm bên trong. Mô hình này dựa trên các sản phẩm bảo hiểm được kết hợp với các sản phẩm ngân hàng, và được tích hợp với các dịch vụ tư vấn và quản lý tài sản (wealth management) của ngân hàng. Mô hình này được coi là hiệu quả nhất và đảm bảo cho mức độ thâm nhập cao hơn và trải nghiệm khách hàng tốt nhất.

(5) Mô hình Outbound Telemarketing: Nhân viên chủ động gọi cho khách hàng

Mô hình Outbound Telemarketing nhắm mục tiêu vào khách hàng không tới ngân hàng và phụ thuộc đáng kể vào chất lượng cơ sở dữ liệu khách hàng do ngân hàng cung cấp. Mô hình này cung cấp một Up-selling (bán thêm sản phẩm cho khách hàng có sẵn) dài hạn tốt hơn và tiềm năng bán chéo với chi phí thấp.

Phần lớn các DNBH thành công trong bancassurance đều thiết lập hệ thống Chỉ số đánh giá hiệu quả công việc – KPI (Key Performance Indicator) cho các nhân viên bancassurance, trong đó bao gồm các chỉ tiêu như tỷ lệ khách hàng giới thiệu, giá trị hợp đồng, số lượng hợp đồng, tỷ lệ duy trì hợp đồng, tỷ lệ tái tục. Quản lý hiệu quả phân phối của ngân hàng có liên quan chặt chẽ đến chế độ thưởng và chính sách ưu đãi cho cán bộ ngân hàng tham gia bảo hiểm.

Chính vì lý do đó, lựa chọn mô hình phân phối phù hợp là rất quan trọng trong phát triển bancassurance, mô hình và chiến lược cần được đánh giá và phân tích thường xuyên để phù hợp với văn hóa bán hàng của ngân hàng và sự hỗ trợ của công ty bảo hiểm để đảm bảo hiệu quả trong triển khai hợp tác. Bản chất phát triển của hoạt động bancassurance tại các chi nhánh ngân hàng là tạo ra cách thức để thiết lập mô hình phân phối bán lẻ, và hỗ trợ ngân hàng tăng cường khả năng phân phối và kỹ năng bán hàng. Bởi vì khi nhân viên cán bộ ngân hàng tư vấn và bán thành công sản phẩm bảo hiểm thì các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng sẽ trở nên rất đơn giản với họ.

Đẩy mạnh hoạt động marketing, quảng cáo và xúc tiến bán hàng

Hoạt động marketing về bancassurance liên quan đến việc định vị để tăng sự nhận biết về việc tham gia bảo hiểm qua ngân hàng. Chiến lược marketing hiệu quả sẽ quyết định hiệu quả trong triển khai bancassurance bao gồm từ việc quảng bá về hợp tác giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm, ra mắt và triển khai sản phẩm, tăng cường kết hợp khuyến mãi và định vị chiến lược sản phẩm phù hợp nhu cầu khách hàng, đề ra các chương trình quảng bá, khuyến mại cho khách hàng và chương trình thi đua bán hàng trong nội bộ.

Một chiến lược marketing trong bancassurance cần thỏa mãn khách hàng, Kênh đối tác, Sản phẩm, Thương hiệu và quảng cáo như tăng cường điểm tiếp xúc với khách hàng qua trang website, trên internet. Ngoài ra, các chương trình khuyến mãi, xúc tiến bán hàng cần được thiết kế và kích hoạt với phân  khúc khách hàng cụ thể bằng những thông điệp phù hợp, để tăng doanh thu. Các công cụ marketing trực tiếp như bưu phẩm trực tiếp, SMS, thư điện tử là những cách để hút khách hàng nội bộ như tại các ngân hàng đối tác. Các điểm bán hàng, chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng cần có thông tin và hình ảnh tạo sự nhận biết thương hiệu của cả hai bên và thông tin về việc phân phối bảo hiểm tại ngân hàng.

Marketing cũng có thể hỗ trợ các ngân hàng phân phối sử dụng các chương trình giới thiệu khách hàng và các chiến dịch duy trì khách hàng. Nhằm tạo ra tiếng vang và sự nhận biết thương hiệu, marketing lý tưởng cần tạo ra được những tài liệu bán hàng, các công cụ bán hàng và hỗ trợ việc nghiên cứu sản phẩm trước khi phát triển sản phẩm. Cuối cùng, chức năng của marketing là liên kết với ngân hàng phân phối và hướng tới việc quản lý thương hiệu, sự nhận biết thương hiệu, và tất cả các hình thức quản cáo – như quảng cáo truyền hình, quảng cáo ngoài trời.

Marketing lúc nào cũng cần thiết, DNBH và Ngân hàng cần phối hợp để có kế hoạch marketing cụ thể trong đó xác định rõ mục tiêu để tăng nhận biết thương hiệu hay tăng doanh thu bán hàng. Kế hoạch triển khai, ngân sách và thời gian thực hiện đều cần được phê duyệt và có sự đồng thuận của hai bên.

Tăng cường đào tạo kỹ năng và hỗ trợ bán hàng

Đào tạo luôn là yếu tố then chốt giúp bancassurance thành công. Các DNBH phải thường xuyên đào tạo và hỗ trợ bán hàng cho các cán bộ, nhân viên ngân hàng liên tục để đảm bảo kiến thức sản phẩm, quy trình được phổ biến và đặc biệt là việc trang bị các kỹ năng, kinh nghiệm cần có trong hoạt động bảo hiểm cần được chia sẻ thường xuyên và liên tục như: Chương trình cơ bản về bảo hiểm, các khóa đào tạo về kỹ năng bán hàng và kinh nghiệm xử lý từ chối khi khách hàng không có nhu cầu tham gia bảo hiểm, các khóa đào tạo nâng cao để phục vụ khách hàng VIP…..

Việc DNBH phối hợp với các ngân hàng tổ chức chương trình đào tạo cơ bản để trang bị kiến thức về sản phẩm, quy trình, kỹ năng bán hàng, kỹ năng tư vấn, quản lý và huấn luyện cho từng cấp quản lý, cấp thực hiện trong ngân hàng là thực sự cần thiết. Ngoài ra, không chỉ đào tạo hay tổ chức hội thảo mà DNBH cần liên tục cử cán bộ hỗ trợ đào tạo tại chi nhánh/Phòng giao dịch của ngân hàng thường xuyên để nhân viên ngân hàng được  hỗ trợ thực tế khi tư vấn bảo hiểm về kỹ năng bán hàng cá nhân, kỹ năng giới thiệu khách hàng, xác đinh và định vị nhu cầu khách hàng và kỹ năng tìm kiếm thông tin, kỹ năng Quản lý, theo dõi và hỗ trợ bán hàng, kỹ năng quản lý bán hàng theo mục tiêu kinh doanh.

Do đó, DNBH và Ngân hàng cần phân tích nhu cầu đào tạo và xây dựng bản đồ học tập về  bancassurance cho các vị trí làm việc tại ngân hàng phân phối bảo hiểm và lập kế hoạch thời gian đào tạo cụ thể theo nhu cầu của ngân hàng. Không chỉ có vậy, việc đào tạo và hỗ trợ sau đào tạo thường xuyên và liên tục  sẽ giúp nhân viên ngân hàng tự tin khi tư vấn bảo hiểm.

Quy trình phối hợp đơn giản – dễ hiểu và dễ áp dụng

DNBH và ngân hàng phải thống nhất và xác định hệ thống vận hành hoạt động trơn chu, đảm bảo luân chuyển dữ liệu chứng từ tuân thủ yêu cầu của quy trình nghiệp vụ, triển khai nhanh chóng và đồng bộ các giải pháp mà hai bên mong muốn, thanh toán và quyết toán tài chính nhanh và chính xác. Hai bên cùng xây dựng các chương trình và chính sách khách hàng phù hợp với hoạt động chung của ngân hàng để tạo dựng hình ảnh sản phẩm bảo hiểm trong ngân hàng trở nên quen thuộc với khách hàng.

Quy trình cung cấp dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc đẩy mạnh doanh số mà quan trọng nhất là trong việc tạo sự tự tin cho các nhân viên ngân hàng trong phân phối bảo hiểm. Do đó, quy trình đơn giản và nhanh chóng, và cần tích hợp quy trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm tương tự với quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng.  Quy trình đưa ra cần đảm bảo tạo hiệu quả cho việc nhận biết nhu cầu khách hàng và bán hàng, quy trình thẩm định và phát hành hợp đồng cần được tối giản. Ngoài ra, cần nghiên cứu về khả năng tích hợp công nghệ để giản lược các bước không cần thiết trong việc phối hợp giữa các bên.

Do đó, quy trình bán hàng và cung cấp dịch vụ cần được đơn giản hóa, việc hỗ trợ bán hàng như thông tin liên lạc, tích hợp với các hệ thống ngân hàng và quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng, đơn giản hóa quy trình đánh giá rủi ro và xử lý đơn yêu cầu bảo hiểm, đường dây nóng dành cho khách hàng để phản ánh các vấn đề về dịch vụ, và thỏa thuận cam kết dịch vụ: (SLA - Service Level Agreements) là văn bản quan trọng để xác định chất lượng kết quả công việc thực hiện bởi ngân hàng đối tác và công ty bảo hiểm để tạo sự khác biệt và đảm bảo sự hài lòng của đối tác, khách hàng.

Do đó, DNBH và Ngân hàng cần xem xét lại quy trình bán hàng và  tích hợp các sản phẩm bảo hiểm với danh mục khách hàng của ngân hàng, và đảm bảo quy trình cung cấp dịch vụ bảo hiểm giống với quy trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng phân phối.

Tóm lại, sẽ không có một “công thức thành công” hay chỉ có “10 hay 100” yếu tố quyết định thành công cho hợp tác và triển khai bancassurance hiệu quả? Bởi điều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vào điều kiện thị trường và vào nỗ lực của cả hai bên Ngân hàng và Bảo hiểm. Chính vì vậy, mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp sẽ có cách lựa chọn và điều chỉnh chiến lược bancassurance riêng của mình để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và nâng cao uy tín doanh nghiệp.

Tuy vậy, cũng như một “cuộc hôn nhân”giữa ngân hàng và bảo hiểm, cần có sự “đồng lòng” của hai bên để cùng phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu chung trên cơ sở thỏa mãn các mục tiêu riêng của doanh nghiệp bảo hiểm, của ngân hàng và hơn cả là làm hài lòng khách hàng –“những thượng đế khó tính” – cần sự chăm sóc của cả hai phía Ngân hàng – Bảo hiểm.

Tài liệu tham khảo

Davis International Banking Consultant (2008).

LIMRA bancassurance report (2009).

Bancassurance – Hiệu quả tới đâu? Nguyễn Quân – Thời báo kinh tế Sài Gòn (2012)

Phát triển kênh phân phối Bancassurance – Xu thế tất yếu trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ giai đoạn hội nhập quốc tế - Phan Hồ Trung (2012)

Bancassurance: a winning formular – Earnst&Young UK, September 2010.

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2010,2011,2012,2013), Số liệu thị trường bảo hiểm Việt Nam

TS. Nguyễn Hữu Hiểu (2009), Tìm hiểu bancassuance dưới góc độ ngân hàng, cổng thông tin điện tử Vietinbank, 2009.

Nguyễn Thu Phương (2009), Bancassurance ở Châu Á, Thái Bình Dương, chờ sự đón nhận tại thị trường Việt Nam, diễn đàn Luật Tài chính, 2009.

Lương Xuân Trường (2006), Bancassurance – cách thức kết hợp các dịch vụ tài chính “ một cửa” hiệu quả, Tạp chí Bảo hiểm số 04/2005, số 01/2006.

Từ khóa: Bancassurance , phân phối bảo hiểm , ngân hàng , kênh bán hàng , doanh nghiệp bảo hiểm , Tổ chức tín dụng , nhu cầu , khách hàng , sản phẩm bảo hiểm Các tin đã đưa Sẽ có 200 triệu giao dịch bằng thẻ vào năm 2015 Bancassurance - 10 yếu tố quyết định thành công Nhiều nhà đầu tư nước ngoài "xếp hàng" chờ mua nợ xấu Minh bạch bằng tiêu chí cụ thể Dang tay đón “ngoại lực” để tái cơ cấu ngân hàng yếu kém "Góc khuất" doanh nghiệp FDI Chi phí “bôi trơn” của doanh nghiệp vận tải chiếm khoảng 8% Xu hướng mới của bán lẻ: Mặc cả Muốn sống các doanh nghiệp phải tự cứu mình Động lực tăng trưởng mới dừng ở bề nổi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất BIDV hợp tác với Ogilvy&Mather Việt Nam thực hiện dự án Tư vấn xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết "Siêu lừa" Huyền Như: từ ảo mộng đại gia bất động sản đến vành móng ngựa Đến thời điểm huy động vàng chưa? Kiểm soát tốt lạm phát: Nhìn từ quốc tế đến trong nước Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hoàn thiện thể chế - “Cú hích” quyết định cho tăng trưởng kinh tế

Hoàn thiện thể chế - “Cú hích” quyết định cho tăng trưởng kinh tế

Thứ tư 08/01/2014 15:08

(Tài chính) TS. Trần Ngọc Châu – Nhà báo, Giám đốc kênh truyền hình tài chính FBNC, bình luận về Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có tính định hướng rõ ràng. Nguồn: internet

Nhiều tâm đắc  Là chuyên gia kinh tế giàu kinh nghiệm, đồng thời là một người làm báo trên 35 năm, TS. Trần Ngọc Châu cho biết ông nhận thấy Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “có tính định lượng cao hơn hẳn các bài diễn văn trước đó, tất nhiên đấy là định lượng những điều mà đã được định tính trong các văn kiện trước đó của Đảng”.

TS. Châu lấy ví dụ, các vấn đề dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, vấn đề nhà nước pháp quyền, Thủ tướng đã có những thông điệp rất cụ thể, như thúc đẩy việc bầu lãnh đạo cấp xã; và lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ khẳng định tác động tích cực của Internet tới giới trẻ Việt Nam nói chung. Thủ tướng cũng thể hiện sự tin tưởng của ông với giới trẻ Việt Nam rằng họ là thế hệ có tri thức, thông minh, đủ sức hội nhập với thế giới hiện đại.

“Tôi cũng rất tâm đắc, vì lần này Thủ tướng một lần nữa khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa chính trị và kinh tế. Bằng cách đặt vấn đề đổi mới, hoàn thiện cơ chế thành một mũi nhọn quan trọng. Đúng là cơ chế kinh tế của chúng ta đã phát huy tốt vai trò trong giai đoạn phát triển đầu của nền kinh tế mở cửa, nhưng đến nay, chiếc áo dường như đã chật”, TS. Trần Ngọc Châu bình luận.

Điều thứ ba, ông Châu cho rằng, Thủ tướng đã khẳng định mạnh mẽ giá trị cạnh tranh toàn cầu trong bài viết của mình, kinh tế Việt Nam phải được tính như một thành phần của kinh tế thế giới. Kể cả việc tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng phải đặt trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu ra sao trong năm 2014.

Thách thức từ thực tiễn

Để thực hiện được những quan điểm mang tính định lượng cao trong bài viết của mình, TS. Châu cho rằng, Thủ tướng và Chính phủ, sẽ gặp phải những thách thức không nhỏ từ thực tế, mà ông tạm gọi là những thói quen của xã hội.

“Thứ nhất là “Hành động”, người dân đang kỳ vọng vào những hành động quyết liệt của Chính phủ trong năm 2014. Chẳng hạn, việc thí điểm bầu lãnh đạo cấp xã, đã được đề ra từ Nghị quyết 5 của Đại hội X, nay được Thủ tướng khẳng định cần sớm thực hiện, thì chúng tôi hy vọng sớm, nghĩa là ngay trong năm nay”, TS. Châu nói.

Ông cũng cho biết giới quan sát cũng hy vọng, với vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trong các chỉ đạo được báo giới đăng tải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thay vì “yêu cầu, đề nghị”, thì sẽ là “chỉ thị” để các cơ quan cấp dưới phải làm, với thời hạn cụ thể, cho thấy sự quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện, gắn chặt với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan trực thuộc Chính phủ. Việc mới đây, các Bộ trưởng, Chủ tịch các tỉnh có thể bị thanh tra bởi Thanh tra Nhà nước, là một biểu hiện tích cực cho thấy những kỳ vọng này là hoàn toàn có cơ sở.

Thách thức thứ hai, theo TS. Châu, khi Thủ tướng nói về hoàn thiện thể chế, mở rộng dân chủ, liệu có xuất hiện rào cản về tâm lý khi bộ máy chính quyền phải chia sẻ quyền lực với người dân? Bởi lâu nay, chúng ta đã quen với một bộ máy quản lý điều hành bằng mệnh lệnh, nay sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố của một thị trường tự do.

“Dù chúng ta đã có đủ thế và lực, nhưng cần lắm một sự kiên quyết trong chỉ đạo, điều hành và thực hiện, như những gì Thủ tướng đã nêu trong thông điệp đầu năm, nếu không, thế và lực dù mạnh đến đâu cũng hàm chứa nhiều yếu tố dễ vỡ”, TS. Châu nói.

Còn nhiều “sức bật” từ nền kinh tế

Nói về bức tranh kinh tế đất nước năm 2014, TS. Châu cho rằng, trước kỳ vọng của toàn dân, những lựa chọn của Thủ tướng và Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng của cả nước đã được Quốc hội thông qua, là “dựa trên cơ sở tính toán thực tế của tình hình phát triển các năm trước và tính đến mọi yếu tố tác động của năm 2014”.

Điều quan trọng nhất, thời gian qua, chúng ta đã ổn định được kinh tế vĩ mô, thế nhưng theo kinh tế học, chúng ta sẽ đối diện với bài toán nếu kìm chế lạm phát ở mức cực đoan, sẽ dẫn tới nền kinh tế giảm phát. Tuy rằng Thủ tướng không đề cập trực tiếp đến nguy cơ này trong bài viết đầu năm của mình, nhưng TS. Châu tin rằng “Thủ tướng biết rõ đất nước đang đối mặt với nguy cơ giảm phát”. Đương nhiên, khó mà so sánh con số tăng trưởng của Việt Nam với các nước trong khu vực, bởi nhiều nước đã qua thời kỳ phát triển mạnh, trong khi chúng ta mới ở giai đoạn đầu của một nước đang phát triển. Vì thế, tỉ lệ tăng trưởng GDP 5,8% “sẽ còn khả năng có thể cao hơn”.

“Dù một số ý kiến cho rằng, thậm chí chúng ta có thể tăng trưởng dưới 5%, nhưng tôi tin rằng kinh tế Việt Nam còn một số tiềm lực chưa phát huy hết. Mà như quan điểm của Thủ tướng thể chế không phải là một nguồn lực, nhưng nó có thể là một cú hích quan trọng. Bởi nguồn lực thì hạn chế, nhưng thể chể là do chúng ta tạo ra. Thủ tướng đã dẫn chứng một số ví dụ để minh chứng rất rõ cho điều này: Khoán 10 đã đưa nước ta từ một nước phải nhận viện trợ, đã trở thành cường quốc xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 thế giới”, TS. Châu phân tích.

Nhìn lại năm 2012, TS. Châu dẫn chứng, nền kinh tế của chúng ta tăng trưởng với hai tốc độ, một là tốc độ xuất khẩu tăng lên, trong khi nội địa lại giảm. Xuất khẩu tăng chủ yếu đến từ khu vực kinh tế FDI, tại sao các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm được, mà doanh nghiệp trong nước thì không, điều đó là do thể chế.

TS. Châu tin rằng, thực hiện quyết liệt việc hoàn thiện thể chế mà Thủ tướng đã nhấn mạnh sẽ có những tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của đất nước trong năm 2014. Nhưng tất cả phải có lộ trình, những gì Thủ tướng đặt ra trong bài phát biểu đầu năm 2014, không chỉ có giá trị trong năm nay, mà còn trong vòng 2-3 năm tới, chúng ta mới thấy hết những thành quả từ các chính sách và chủ trương đó.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: TS. Trần Ngọc Châu , kênh truyền hình tài chính FBNC , Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng , nền kinh tế , kinh tế vĩ mô , tăng trưởng , nguồn lực Các tin đã đưa Hoàn thiện thể chế - “Cú hích” quyết định cho tăng trưởng kinh tế Tăng cường tái cơ cấu tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu 2014: Tập trung kiểm toán sở hữu chéo ngân hàng Bước ngoặt ổn định kinh tế vĩ mô Tái cơ cấu đầu tư công: Nhìn từ vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Cải cách thể chế kinh tế, nhìn từ thông điệp của Thủ tướng Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt: Thông điệp mang lại nhiều hy vọng “Bức tranh” nợ xấu giai đoạn 2011 - 2013? Bảo hiểm hưu trí tự nguyện trong hoạch định kế hoạch tài chính hưu trí Hai kịch bản cho tăng trưởng và lạm phát Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết Quy định mới được sửa đổi, bổ sung về thuế Giá trị gia tăng Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Những cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam trong năm 2014 Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS