Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng

Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng

Thứ hai 24/02/2014 16:00

GS., TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

(Tài chính) Nhằm cung cấp cho độc giả các góc nhìn đa chiều hơn về diện mạo và triển vọng kinh tế Việt Nam, chung tôi trân trọng giới thiệu đến độc giả bài viết của chuyên gia kinh tế - GS., TS. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam về bức tranh viễn – cận của nền kinh tế trong thời gian qua cũng như dự cảm về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014.

Nhìn lại diễn biến kinh tế vĩ mô năm 2013, nhiều quan điểm cho rằng diện mạo kinh tế Việt Nam năm 2013 so với năm 2012 đã có nhiều nét tươi sáng hơn, tạo đà để bứt phá đi lên trong năm 2014, thể hiện ở việc hoàn thành cơ bản các mục tiêu mà Quốc hội đề ra từ đầu năm như lạm phát ổn định, lãi suất thấp...

Bên cạnh đó, ở góc nhìn khác, có ý kiến cho rằng, bức tranh chung của kinh tế Việt Nam vẫn còn rất nhiều mảng xám như số lượng doanh nghiệp phải đóng cửa lớn, tồn kho cao, nợ xấu tín dụng và bất động sản chưa thực sự được giải quyết triệt để...…

Nhìn xa hơn, đó là những quan ngại về tính hiệu quả và chất lượng của tăng trưởng kinh tế. Theo đó, có những nhìn nhận trái chiều khi đưa ra nhận định và dự cảm về triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2014, từ đó dự kiến những giải pháp cần có để đối phó với những tình huống có thể xảy ra với nền kinh tế trong năm tới.

Bức tranh viễn - cận của nền kinh tế

Cách đây 6 - 7 năm, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ai cũng hy vọng và tin tưởng rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ bay lên và “hóa rồng”. Nhưng thực tế đang diễn ra hiện nay không phải như vậy: trong khi các nền kinh tế trên thế giới vốn bị lâm vào khủng hoảng “trăm năm mới có một lần” (giai đoạn 2008 - 2011) hay các nền kinh tế châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, từ chỗ rất thăng trầm (trong giai đoạn từ năm 1997 cho đến gần đây), đã bắt đầu khởi sắc thì nền kinh tế Việt Nam lại ở vào thế bị “kẹp” trong tình trạng tắc nghẽn tăng trưởng.

Đi liền với xu hướng đó là Việt Nam đang có dấu hiệu tụt hậu xa hơn so với thế giới trên nhiều phương diện kinh tế cơ bản (như GDP/người, năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản trị vĩ mô...). Xu hướng này đã bộc lộ từ lâu và tiếp tục được bộc lộ rõ hơn trong thời gian gần đây.

Đồ thị 2 cho thấy năm 2000, khoảng cách giữa mức thu nhập đầu người của Việt Nam với thu nhập đầu người của Trung Quốc chỉ là 450 USD/người/năm. Nhưng 10 năm sau, đến năm 2010, khoảng cách đó đã lên tới 3.110 USD/người/năm. Độ doãng rộng hơn gần 2.700 USD. Hay so với Thái Lan, tương quan khoảng cách tương ứng với các mốc thời gian trên là 1.610 USD và 2.990 USD/người/năm; nghĩa là mức độ “nghèo” hơn của người dân Việt Nam so với người dân Thái Lan đã tăng thêm gần 1.400 USD/người/năm.

Đồ thị 3 đưa ra một bức chân dung khác: nền kinh tế Việt Nam đang ở trong giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng kéo dài nhất kể từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới.

Nhận định về trạng thái cơ bản của kinh tế Việt Nam hiện nay, hiện có 2 loại ý kiến. Trong đó, một loại ý kiến nhìn nhận xu hướng tích cực của nền kinh tế thông qua một số mục tiêu đạt được trong năm 2013, ví dụ như kiềm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ, ổn định tỷ giá hối đoái... Đà suy giảm tăng trưởng cũng có vẻ bắt đầu được chặn lại, quá trình phục hồi tăng trưởng bắt đầu với tốc độ tăng GDP quý sau cao hơn quý trước trong suốt cả năm, mặc dù tăng trưởng GDP cả năm cũng chỉ khoảng 5,4% - một mức khá thấp. Đó thực sự là những kết quả tích cực và rất có ý nghĩa cho nền kinh tế sau một thời gian dài vật lộn với khó khăn.

Đồ thị 2: Tụt hậu xa hơn đang tăng tốc

Nhưng cần nhấn mạnh rằng, xu thế tăng trưởng GDP tổng thể - tính theo năm - vẫn chưa được đảo ngược. Nền kinh tế vẫn đang trên đường thoát ra khỏi tình trạng trì trệ tăng trưởng trong một vài năm tới. Nếu nói rằng trạng thái cơ bản của nền kinh tế đang là ổn định vĩ mô thì đó là sự ổn định đã được thiết lập và đặt trên một nền tảng vĩ mô chưa thực sự mạnh.

Tại sao lại nói như vậy? Vì các nhiệm vụ chiến lược mà nền kinh tế phải giải quyết - ba trọng điểm tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, ba đột phá chiến lược mà Đại hội XI đã đưa ra - vẫn còn ngổn ngang, mặc dù đang được triển khai khá bài bản và mang tính chiến lược.

Cho nên, có thể nhận định rằng, quỹ đạo cũ của nền kinh tế, tức là quỹ đạo mà nền kinh tế Việt Nam đang “thăng trầm” trong những năm qua, hiện nay vẫn chưa thay đổi. Trong khi dư địa chính sách bị thu hẹp, điều đó có nghĩa là nếu nền kinh tế tiếp tục nỗ lực gia tăng thành tích ngắn hạn bằng cách tăng đầu tư, bằng cách chống lạm phát vẫn theo kiểu như từ trước đến nay thì nền kinh tế vẫn tiếp tục gia tăng rủi ro, gia tăng nguy cơ dài hạn, chiến lược. Sở dĩ nói như vậy là bởi vì các nỗ lực đầu tư để tăng trưởng đang diễn ra trong một cấu trúc thực sự chưa hợp lý, theo một cơ chế phân bổ nguồn lực mà chính Việt Nam đang muốn thay thế nó một cách triệt để và nhanh chóng. Tiếp tục đầu tư trong khuôn khổ cấu trúc đó để “gỡ” tăng trưởng có thể sẽ là tích đọng thêm rủi ro và nguy hiểm nhiều hơn.

Như chúng ta biết, năm 2013, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tăng 5 bậc. Tăng như vậy, có phải là nền kinh tế đã đảo chiều? Đây vẫn là một câu hỏi ngỏ. Nhưng dù chúng ta có công nhận rằng nền kinh tế Việt Nam đã đảo chiều đi chăng nữa thì vẫn mới chỉ là đảo chiều trên một nền tảng chưa thực sự mạnh, với độ rủi ro còn lớn. Với nền tảng đó, nếu Việt Nam không cẩn thận thì bất ổn định sẽ xuất hiện trở lại và những vấn đề cơ cấu có khi còn trở nên tồi tệ hơn.

Trên thực tế, các cơ sở cho tăng trưởng của năm 2013 yếu hơn năm 2012. Bằng chứng là tín dụng sau 11 tháng, chỉ mới tăng được hơn 7,5%. Với sức hút tín dụng yếu như vậy ở một nền kinh tế mà tăng trưởng GDP lệ thuộc vào vốn đến 80% thì GDP không thể tăng trưởng bình thường. Thêm vào đó, cơ sở ngân sách cho tăng trưởng năm 2013 cũng chưa vững chắc. Thu chi ngân sách thấp so với tiến độ cần thiết.

Năm 2013, như nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra, cả 3 cơ sở nội địa của tăng trưởng GDP - khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực doanh nghiệp tư nhân và khu vực nông nghiệp, nông thôn - hoạt động kém hơn năm trước. Cả 3 động lực tăng trưởng trong nước bị “yếu ga” nghiêm trọng. Nhiều doanh nghiệp nội địa tiếp tục đóng cửa. Số liệu thống kê cho thấy, tính đến hết tháng 11/2013, số doanh nghiệp đóng cửa đã lên tới gần 55.000 doanh nghiệp, cao hơn cả số lượng doanh nghiệp đóng cửa của hai năm trước. Mà doanh nghiệp trụ lại đến năm thứ 3 rồi mới đóng cửa thì đa số đều là những doanh nghiệp mạnh hơn doanh nghiệp đóng cửa của hai năm trước. Khi những doanh nghiệp này bị đóng cửa, sức mạnh tăng trưởng GDP cũng bị suy yếu theo.

Đó là chưa tính đến sức cản tăng trưởng của mấy “cục máu đông” – nợ xấu, tồn kho sản phẩm, tồn kho bất động sản mà đến nay vẫn chưa giải tỏa được như mong muốn.

Cần nhấn mạnh một điểm là việc thực hiện cam kết WTO. Việt Nam tham gia WTO với cam kết tiến nhanh hơn tới một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh. Nhưng trên thực tế, từ lúc gia nhập vào WTO, có ba điểm cho thấy Việt Nam chưa thực hiện tốt cam kết đó:

Một là, việc điều hành vĩ mô được thực hiện với không ít những giải pháp hành chính và ngắn hạn.

Hai là, khu vực tư nhân - lực lượng quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường - bị suy yếu quá nhiều trong và sau suy thoái.

Ba là, kể từ khi gia nhập WTO đến nay, “trái tim” của nền kinh tế thị trường là hệ thống giá cả của Việt Nam vẫn chậm được “cải thiện” theo hướng thị trường một cách đầy đủ, trong không ít tình huống xử lý vẫn mang tính hành chính, phi thị trường.

Cơ sở nào để nói như vậy? Vì 4 nhóm giá quyết định nhất đều còn mang tính chất của hệ thống giá “hành chính”. Mà 4 nhóm giá này mới quyết định bản chất kinh tế thị trường của nền kinh tế. Đó là:

i) Nhóm giá năng lượng gồm than, điện, xăng dầu.

ii) Nhóm giá đất đai - nguồn lực đầu vào quan trọng bậc nhất của nền kinh tế.

iii) Giá vốn - giá tiền (lãi suất và tỷ giá).

iv) Giá lao động - tiền lương trong khu vực Nhà nước.

Cần đặt mối liên hệ nhân quả giữa một bên là những cam kết thị trường vào WTO và một bên là kỳ vọng bay lên của nền kinh tế. Chưa thực hiện đúng cam kết, với thực tế nền kinh tế thiếu ổn định, chưa bền vững chắc chắn phải có mối liên hệ bản chất.

Cần phải làm gì để xoay chuyển tình hình?

Để vực dậy một nền kinh tế suy yếu với những căn bệnh cơ cấu nghiêm trọng, không phải là việc dễ dàng. Nhưng càng để tình trạng này tồn tại lâu thì chi phí “sửa sai” sẽ càng đắt. Và nếu để quá muộn thì có thể sửa sai còn khó hơn muôn phần, kể cả bằng cách tăng chi phí, dù là vượt bậc.

Thực tế mấy năm qua cho thấy, có một điều chắc chắn: nếu “sửa sai” vẫn làm theo kiểu cũ, với cách thức và giải pháp như mấy năm qua là không được. Để thành công, không thể cứ tập trung lo cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP nhỏ giọt theo kiểu bảo đảm thành tích “quý sau hơn quý trước” trên cơ sở mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế cũ. Để xoay chuyển tình hình, thứ nhất, phải ưu tiên cải cách cơ cấu; thứ hai là tập trung đột phá. Cách tiếp cận đột phá là phải tái cơ cấu khác hẳn.

Tái cơ cấu trên 3 lĩnh vực như hai năm qua không phải là đột phá. Tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế nhà nước không thể là đồng khởi tái cơ cấu mấy chục tập đoàn và tổng công ty. Hoặc tái cơ cấu khu vực ngân hàng chỉ bằng cách sáp nhập các ngân hàng yếu kém thì chỉ làm tăng sở hữu chéo, nghĩa là làm cho câu chuyện trở nên xấu hơn chứ không phải là đã giải quyết triệt để vấn đề.

Do đó, giải pháp trước mắt là ưu tiên trực tiếp xử lý nợ xấu. Biện pháp chủ yếu là Nhà nước, Chính phủ nên ưu tiên trả nợ cho doanh nghiệp, khoảng 100 nghìn tỷ đồng. Khoản nợ xây dựng cơ bản lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng là một trong những phần cơ bản nhất của nợ xấu. 1/2 tổng số nợ xấu nằm trong nợ doanh nghiệp mà người phải gánh nợ là Chính phủ và chính quyền các cấp. Biện pháp ưu tiên mà Chính phủ phải làm, quan trọng nhất và hay nhất, giúp tạo lòng tin nhiều nhất là ưu tiên trả nợ doanh nghiệp.

Một đề xuất nữa là đột phá vào hệ thống giá - “trái tim” của hệ thống thị trường, cơ chế cơ bản để phân bổ nguồn lực đúng đắn - là cải cách 4 nhóm giá cốt lõi đang mang nặng tính phi thị trường như đã đề cập ở trên.

Giải pháp tái cơ cấu đầu tư công nên tập trung sửa Luật Ngân sách chung, đồng thời, áp dụng Luật Ngân sách hàng năm sớm nhất có thể.

Đối với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, chỉ tập trung 2 - 3 tập đoàn “mẫu” và nên làm thật nhanh, theo cách từ trên xuống, sau đó mở rộng ra.

Tái cơ cấu ngân hàng thì tập trung giải quyết vấn đề sở hữu chéo, làm sao phải xử lý vấn đề này cho thực sự khách quan và cơ bản.

Về trung hạn, có nhiều việc cấp bách phải làm nhưng do nguồn lực thiếu, phải có thời gian để gỡ dần. Tuy nhiên, cần tập trung vào một số trọng điểm sau:

Một là, thay đổi chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài.

Hai là, ưu tiên tạo một số tọa độ đột phá chiến lược kiểu như “đặc khu kinh tế”. Đặc khu nên tập trung mở ở những vùng cửa khẩu của các vùng kinh tế trọng điểm như Quảng Ninh - Hải Phòng ở phía Bắc và Bà Rịa - Vũng Tàu ở phía Nam. Còn ở miền Trung nên mở Đặc khu Kinh tế Đà Nẵng - Chân Mây, Lăng Cô. Những tọa độ mở đặc khu để đột phá phải gắn với những vùng trọng điểm để tạo sự lan tỏa mạnh.

Tóm lại, dù ý kiến đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn còn khác nhau, song trong tầm nhìn dài hạn, chiến lược, Việt Nam vẫn là một tọa độ phát triển có sức hấp dẫn đặc biệt. Ngay trong năm 2013 đầy khó khăn như kể ở trên, song tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cấp mới và tăng thêm gần 60% so với năm 2012. Con số đó nói lên một triển vọng và xác nhận niềm tin của các nhà đầu tư, rằng Việt Nam hoàn toàn có thể thoát nhanh khỏi tình trạng trì trệ hiện tại, để bứt phá và tiến vượt lên, miễn là quá trình tái cơ cấu đích thực không còn bị trì hoãn lâu hơn nữa.

Theo Tạp chí Chứng khoán

Từ khóa: nền kinh tế , tái cơ cấu , tăng trưởng , GDP , nợ xấu , kinh tế , Tổ chức Thương mại Thế giới , vĩ mô , GS. , TS. Trần Đình Thiên Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển

Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển

Thứ ba 18/02/2014 08:21

(Tài chính) Khoa học, công nghệ là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã đạt được nhiều kết quả, nhưng cũng còn những hạn chế, bất cập cần giải quyết.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Từ xa xưa, cha ông ta đã chỉ rõ hiền tài là nguyên khí của quốc gia, “phi trí bất hưng”... Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III cách đây trên nửa thế kỷ, Đảng ta đã đề cập đến 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt. Các Nghị quyết tiếp tục sau đó cho đến nay, khoa học, công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội...

Để phát triển kinh tế - xã hội, ở đầu vào cần có tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp. Tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam phong phú về chủng loại, nhưng trữ lượng không lớn; việc khai thác sẽ ngày càng gặp khó khăn hơn, tốn kém hơn và việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên đã đặt ra cấp bách. Vốn đầu tư là yếu tố mà Việt Nam còn thiếu nhất, do hiệu quả kinh tế còn thấp, phần tích luỹ (tiết kiệm)/GDP chưa cao, nên vốn đầu tư/GDP luôn luôn vượt phần tích lũy trong nước/GDP (năm 2007 là 44,04% so với 33,72%, năm 2008 là 44,03% so với 31,9%, năm 2009 là 43,61% so với 29,23%, năm 2010 là 41,5% so với 30,7%, năm 2011 là 40% so với 30,5%).

Việc dựa vào vốn đầu tư như vậy thường dẫn đến ba hậu quả: Thứ nhất là gây bất ổn vĩ mô, trong đó rõ nhất là làm bội chi ngân sách, phải vay nợ nước ngoài để bù đắp cho chênh lệch giữa vốn đầu tư so với tích luỹ trong nước. Thứ hai là gây ra lạm phát cao, lặp đi lặp lại và kéo dài. Thứ ba là chất lượng tăng trưởng thấp, tăng trưởng kinh tế sẽ không bền vững. Việt Nam có số lượng lao động rất đông đảo, nhưng do tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, trong cơ cấu lao động, tỷ trọng số đang làm việc trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thuỷ sản còn lớn, nhưng lại có năng suất lao động thấp nhất trong 3 nhóm ngành..., nên năng suất lao động xã hội của Việt Nam còn thấp hơn nhiều nước.

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bao gồm hiệu quả vốn đầu tư, năng suất lao động, dựa trên sự phát triển của khoa học, công nghệ. Do vậy, TFP có vai trò quan trọng về nhiều mặt khi vừa liên quan đến trí tuệ của con người cùng các chính sách để đào tạo, thu hút, sử dụng, mở cửa hội nhập với thế giới... Đồng thời liên quan đến việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, từ chiều rộng sang chiều sâu, đến phát triển bền vững... Ngoài ra, việc nâng cao TFP không chỉ khai thác được nguồn lực ở trong nước, mà còn thu hút được khoa học-công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu tiến tới xuất siêu...

Kết quả về khoa học, công nghệ thể hiện trên hai mặt chủ yếu.

Thứ nhất, đó là sự đóng góp của bản thân khoa học, công nghệ đối với sự phát triển của đất nước.

Khoa học xã hội đã có đóng góp lớn trên nhiều mặt, trong đó có một số mặt tổng quát và chủ yếu. Rõ nhất là các nghiên cứu trong lĩnh vực này làm căn cứ để hình thành đường lối đổi mới và đã có những tác động sâu rộng, lớn lao tới toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Cốt lõi của việc đổi mới là chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp hiện vật sang cơ chế thị trường, khai thác các nguồn lực của các thành phần kinh tế. Tiếp nối với việc phát triển các thành phần kinh tế ở trong nước là việc mở cửa hội nhập với thế giới, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá. Nhờ vậy, đất nước đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; từ năm 2010 đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình.

Khoa học tự nhiên đã góp phần nâng cao trình độ và năng lực của khoa học cơ bản. Khoa học kỹ thuật và công nghệ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đưa tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt khá cao, đưa hàng hoá Việt Nam đến hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Xuất khẩu sản phẩm khoa học-công nghệ tăng khá.

Thứ hai, hoạt động khoa học-công nghệ có bước tiến bộ về tiềm lực, về quản lý Nhà nước, về hệ thống pháp luật, về thị trường khoa học-công nghệ, về hợp tác quốc tế.

Tỷ lệ lao động đang làm việc qua đào tạo đã tăng lên. Tỷ trọng người làm chuyên môn kỹ thuật trong tổng số lao động đang làm việc đã tăng lên từ dưới 8,5% năm 2009 lên gần 10% năm 2012, trong đó người làm chuyên môn kỹ thuật bậc cao đã tăng từ 4,65% lên 5,33%. Chỉ riêng về xây dựng nhà cửa vượt cao lên gấp nhiều lần, nhiều công trình ngầm sâu, vượt xa... đều là kết quả của khoa học-công nghệ.

Hạn chế, bất cập cần giải quyết

Bên cạnh những kết quả tích cực, về khoa học, công nghệ hiện cũng có những hạn chế, bất cập.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá... đã đề cập đến những hạn chế bất cập của hoạt động khoa học-công nghệ. Hoạt động khoa học, công nghệ nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Các hạn chế, bất cập được thể hiện ở một số mặt như về đầu tư, huy động nguồn lực của xã hội và hiệu quả đầu tư; về đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ; về cơ chế quản lý về quy hoạch, kế hoạch phát triển; về cơ chế tài chính; về thị trường; về hợp tác quốc tế.

Nếu nhìn về các lĩnh vực, cũng còn những hạn chế, bất cập cụ thể. Khoa học xã hội và nhân văn còn “nợ” nhiều câu hỏi, như thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thế nào là tư bản tư nhân, những tiêu chí nào và thống kê ra sao; bẫy thu nhập trung bình cần tránh gồm những nội dung và giải pháp gì; thế nào là cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thế nào là chủ đạo...? Khoa học tự nhiên có liên quan đến trình độ, năng lực của khoa học cơ bản nhưng việc đánh giá chưa cụ thể. Khoa học kỹ thuật và công nghệ tác động đến việc chuyển đổi chất lượng nông, lâm-thủy sản, đến tính gia công của công nghiệp chưa nhiều, đến năng suất lao động, hiệu quả đầu tư... Ngay hiệu quả của đầu tư (ICOR), tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, TFP và tỷ trọng đóng góp của nó hiện cũng chưa có số liệu công bố chính thống...

Đồng thời cần xác định, thống nhất một số chỉ tiêu có tính định lượng về mức độ đóng góp của TFP vào tốc độ tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lao động đang làm việc được đào tạo; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị; giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ; số cán bộ khoa học-công nghệ nghiên cứu và phát triển.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: hoa học , công nghệ , phát triển kinh tế - xã hội , hiệu quả đầu tư , cơ chế tài chính , thị trường , xuất khẩu , tiềm lực Các tin đã đưa Tập trung kiểm toán tài chính, bảo hiểm Kinh tế Việt Nam 2014: Cơ hội và giải pháp lớn! Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Cần một cuộc "ân xá" để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam "Điểm mặt" những mục tiêu cơ bản của Luật Đấu thầu 2013 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tập trung tạo thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh phát triển

Tập trung tạo thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh phát triển

Thứ hai 10/02/2014 17:47

(Tài chính) Ngày 7/2, tại Thông báo số 61/TB-VPCP, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương, các bộ có liên quan và các địa phương lưu ý tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như hoàn thiện thể chế, tạo cơ chế chính sách thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh; hoàn thiện các Quy hoạch ngành sản xuất; tăng cường xúc tiến thương mại; kiểm tra, kiểm soát thị trường.

Cần chú trọng phát triển thị trường nội địa. Nguồn; internet

Tạo cơ chế, chính sách thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh   Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương, các bộ có liên quan và các địa phương cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước nhằm hoàn thiện thể chế, tạo cơ chế, chính sách thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh. Tập trung hoàn thiện các Quy hoạch ngành sản xuất, nhất là các Quy hoạch có tính định hướng lớn, các ngành sản xuất mũi nhọn, cấp thiết.   Đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp phải gắn liền với việc chuyển đổi, tái cơ cấu doanh nghiệp, ngành hàng, lĩnh vực theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hàm lượng công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong từng sản phẩm.   Tăng cường xúc tiến thương mại tìm kiếm thị trường   Bộ Công Thương cần chú trọng phát triển thị trường nội địa, tập trung mở rộng thị trường ngoài nước, phối hợp với các bộ ngành, Hiệp hội ngành hàng tăng cường công tác xúc tiến thương mại tìm kiếm thị trường, đặc biệt là các thị trường còn nhiều tiềm năng.   Bên cạnh đó bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành kinh doanh điện, xăng dầu, than theo cơ chế thị trường, công khai minh bạch các yếu tố hình thành giá. Nhà nước sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách.    Triển khai có hiệu quả Chương trình bình ổn thị trường tại các địa phương. Bộ Công Thương thường xuyên theo dõi, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những biện pháp hỗ trợ khi cần thiết, nhân rộng mô hình bình ổn giá của TP. Hồ Chí Minh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời có lợi cho người tiêu dùng.   Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Công Thương tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường tại các điểm nóng, vùng giáp biên, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng nhất là đối với mặt hàng thuốc lá; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về chất lượng và số lượng, góp phần hạn chế nhập khẩu, ngăn chặn nhập lậu.  Theo chinhphu.vn

Từ khóa: Bộ Công Thương , sản xuất kinh doanh , thương mại , thị trường nội địa , tiềm năng , kinh tế vĩ mô , nhập khẩu , kinh doanh , bình ổn thị trường Các tin đã đưa Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước - Làm gì để tăng tốc? Ai cũng lạc quan còn doanh nghiệp chưa hết lo sợ Giảm lãi suất cho vay: Đôi bên cùng có lợi Khát vọng tỷ đô của các đại gia Việt Mua bán tài sản: Giá đắt, giá rẻ và giá tốt Mua bán nợ, ngại nhất rủi ro chính sách Tập trung tạo thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh phát triển Khi doanh nghiệp hồi sinh Khác biệt hóa: Xu thế mới của ngân hàng bán lẻ 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ

Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ

Thứ ba 11/02/2014 11:00

(Tài chính) Chia sẻ với phóng viên nhân dịp đầu năm mới, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, ngành Ngân hàng xác định Tây Bắc là vùng trọng điểm nên đã và đang có những hỗ trợ về tín dụng để góp phần thúc đẩy khu vực này phát triển nhanh và mạnh hơn.


Phó Thống đốc Đào Minh Tú Phóng viên: Xin Phó Thống đốc nói rõ hơn về định hướng này của ngành Ngân hàng?

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Tây Bắc vốn là một vùng khó khăn, nếu không có những hỗ trợ về tín dụng thì khó có thể phát triển nhanh và mạnh. Cuối năm 2012, NHNN đã trực tiếp làm việc với một số tỉnh trong khu vực và thấy được những khó khăn về vốn, đầu ra của sản phẩm; về nguồn lực, quy hoạch; vấn đề phát triển tiềm năng của vùng, liên kết vùng.

Chính vì vậy, năm 2013, ngành Ngân hàng xác định Tây Bắc là vùng trọng điểm và vấn đề đầu tiên vẫn là nguồn vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong một số lĩnh vực như khai khoáng, sản xuất, nuôi trồng, chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp… Theo đó, NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) tập trung vốn đi đôi với hạ lãi suất và tăng cường vốn trung, dài hạn để đầu tư cho Tây Bắc.

Các ngân hàng thương mại thường quan tâm đến lợi nhuận, nhưng với sự chỉ đạo của NHNN, các ngân hàng đã thể hiện trách nhiệm của mình nhiều hơn đối với sự phát triển của vùng, không chỉ vì lợi nhuận, mà đó còn là nhiệm vụ chính trị. Ngoài 4 ngân hàng thương mại nhà nước, một số ngân hàng thương mại cổ phần cũng đã quan tâm và thể hiện trách nhiệm của mình đối khu vực này trong việc cung ứng vốn tín dụng và đặc biệt là vấn đề an sinh xã hội.

Tuy nhiên, Tây Bắc là vùng nghèo nên lượng vốn huy động tại chỗ khó có thể đáp ứng được nhu cầu. Vậy NHNN đã có những giải pháp gì?

Đúng vậy, nguồn vốn huy động tại chỗ mới chỉ đáp ứng được khoảng 72% cho doanh nghiệp của địa phương. Cụ thể, đến ngày 31/12/2013, tổng nguồn vốn huy động (bao gồm huy động của tổ chức, cá nhân và phát hành giấy tờ có giá) trên địa bàn 12 tỉnh Tây Bắc đạt 93.361 tỷ đồng, tăng 17% so với thời điểm 31/12/2012. Một số tỉnh tăng trưởng huy động thấp như: Bắc Kạn tăng 1%, Tuyên Quang tăng 10%, Lào Cai tăng 10%…, trong khi tăng trưởng huy động của cả nước là 19,78%. Do vậy, các ngân hàng đã điều động lượng vốn khá lớn từ Trung ương về, từ các địa phương khác tới.

Bên cạnh đó, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, NHNN đã trực tiếp đối thoại với các doanh nghiệp của địa phương, những doanh nghiệp nào hoạt động hiệu quả nhưng thiếu vốn sẽ được xử lý tại chỗ. Các dự án của tỉnh có hiệu quả sẽ chỉ định các ngân hàng thương mại tập trung vốn. Giải pháp này đã được thực hiện tại Bắc Kạn, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu…

Do các dự án đầu tư tại Tây Bắc tập trung vào lĩnh vực thủy điện, khai thác khoáng sản và các dự án lớn, nên thời gian tới các ngân hàng sẽ tiếp tục cho vay theo đúng tiến độ giải ngân các dự án đã cam kết. Đối với những lĩnh vực có thế mạnh của Tây Bắc như chế biến gỗ, khai khoáng và một số cây trồng có hiệu quả cao, NHNN sẽ phối hợp chặt chẽ với các địa phương để tăng cường đầu tư, nhất là vốn trung, dài hạn.

Còn lãi suất thì sao, thưa Phó Thống đốc?

NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiết giảm tối đa chi phí để giảm lãi suất cho vay. Theo đó, những doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, đối tượng ưu tiên đều được giảm lãi suất hợp lý. Còn lãi suất cao chỉ áp cho tiêu dùng, đó là lĩnh vực không khuyến khích.

Vốn tín dụng đương nhiên là rất quan trọng đối với khu vực Tây Bắc đang còn nghèo, song điều mà người dân, doanh nghiệp nơi đây cần không chỉ là vốn, mà còn cả các dịch vụ ngân hàng hiện đại, thuận lợi.

Về vấn đề này, NHNN cũng đã có chủ trương cho phép các ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động tại những tỉnh có nhu cầu và các ngân hàng thấy có khả năng duy trì được bộ máy hoạt động. Trước hết, không phải vì mục tiêu lợi nhuận, mà là để tạo thuận lợi cho cung ứng dịch vụ rộng khắp cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn.

Phó Thống đốc có thể cho biết kết quả cho đến nay?

Với những biện pháp mạnh mẽ, tổng dư nợ tín dụng tại vùng Tây Bắc đến 31/12/2013 đạt 126.375 tỷ đồng, tăng 15% so với 31/12/2012, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống là 12,51%. Trong đó, dư nợ cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tại khu vực Tây Bắc đạt 50.165 tỷ đồng, chiếm hơn 40% tổng dư nợ tín dụng toàn vùng và chiếm 7,6% tổng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn toàn quốc.

Riêng dư nợ tín dụng của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội đối với khu vực Tây Bắc đạt 24.527 tỷ đồng, chiếm 20,19% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 18,36% so với năm 2012, với 884.886 lượt khách hàng vay vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 0,69%/tổng dư nợ, giảm 0,14% so với năm 2012.

Về cơ bản, nguồn vốn tín dụng đã đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh quốc phòng trên địa bàn. Ngoài các chương trình cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, việc tham gia vốn tín dụng cho các dự án trọng điểm, các dự án lớn trong khu vực đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng.

Định hướng của ngành Ngân hàng đối với khu vực này trong năm 2014 như thế nào?

NHNN tiếp tục giải quyết bài toán về vốn cho khu vực Tây Bắc, nhất là cho các dự án hiệu quả. Đồng thời, nếu lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, sẽ tiếp tục giảm lãi suất.

Liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo trong khu vực, sẽ phát huy tối đa vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội. Theo đó, sẽ dành nguồn vốn thỏa đáng để cho vay các chương trình tín dụng chính sách, đi đôi với việc hướng dẫn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, qua đó giúp người nghèo thực sự thoát nghèo bền vững. Tuy nhiên, trong 19 chương trình cho vay người nghèo và vùng kinh tế khó khăn hiện nay, sẽ tập trung vốn cho một số chương trình trọng điểm.

Đặc biệt, NHNN trình Chính phủ sửa đổi Nghị định 41/2010/NĐ-CP cho vay nông nghiệp, nông thôn, mở rộng đối tượng cho vay, mức cho vay được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế.

Tuy nhiên, để đồng vốn tín dụng phát huy tối đa hiệu quả, cần có những quy hoạch cụ thể của địa phương và Trung ương, sự kết hợp giữa vốn đầu tư Nhà nước vào xây dựng cơ sở hạ tầng cùng với vốn đầu tư thương mại…

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , tín dụng , cho vay , dư nợ , ngân hàng thương mại , huy động , ngân hàng , lãi suất , Phó Thống đốc Đào Minh Tú Các tin đã đưa "Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình" Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước - Làm gì để tăng tốc? “Quá nuông chiều doanh nghiệp FDI” Vẫn muốn “đẻ” thêm ngân hàng làm gì? Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Thực thi cam kết TPP - cơ hội và thách thức Nợ công của Việt Nam năm 2013 và quản lý nợ trung hạn Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ Thị trường tài chính 2014 sẽ tích cực hơn Mua bán tài sản: Giá đắt, giá rẻ và giá tốt Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Triển vọng kinh tế thế giới năm 2014 và những tác động đến Việt Nam

Triển vọng kinh tế thế giới năm 2014 và những tác động đến Việt Nam

Chủ nhật 02/02/2014 14:00

NHÓM NGHIÊN CỨU TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - Viện Chiến lược & Chính sách Tài chính

(Tài chính) Kinh tế thế giới được dự báo sẽ hồi phục trong năm 2014. Tuy nhiên, ngoài những rủi ro hiện hữu thì cũng đã xuất hiện những rủi ro mới tác động đến kinh tế các nước. Bài viết điểm qua tình hình kinh tế thế giới trong năm 2013, những dự báo cho năm 2014 và những tác động của xu hướng mới đến kinh tế Việt Nam

Triển vọng kinh tế thế giới

Tăng trưởng trong khó khăn, triển vọng khả quan

Liên tục trong các tháng cuối năm, các tổ chức quốc tế đã điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới cho năm 2013 và năm 2014. Liên hiệp quốc (UN) trong tháng 12/2013 đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2013 từ 2,3% xuống còn 2,1% năm 2013 và từ 3,1% xuống còn 3,0% năm 2014. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong tháng 10/2013 đã hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu từ 3,1% xuống 2,9% năm 2013, và từ 3,8% xuống 3,6% năm 2014; UNCTAD trong tháng 09/2013 đưa ra mức dự báo tăng trưởng năm 2013 là 2,2%.

Triển vọng trong ngắn hạn, kinh tế thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu từ việc thu hẹp gói nới lỏng định lượng năm 2014. Trong trung hạn, nguy cơ nợ công vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại tại các nước phát triển.

Tăng trưởng các nước phát triển tại Khu vực đồng Euro (Eurozone) và Nhật Bản có xu hướng phục hồi trong nửa cuối năm 2013, trong khi kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục tăng trưởng chậm. Tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2013 chậm hơn so với 2012 do lực cản đến từ việc củng cố tài khóa nhưng được dự báo sẽ phục hồi mạnh trong năm 2014.

Các tổ chức quốc tế hạ dự báo tăng trưởng của Mỹ, cụ thể: UN (tháng 12/2013) điều chỉnh giảm dự báo GDP của Mỹ từ 1,9% xuống 1,6% trong năm 2013 và từ 2,6% xuống 2,5% trong năm 2014 (so với dự báo tháng 5/2013); IMF (tháng 10/2013) hạ dự báo GDP của Mỹ từ 1,7% xuống 1,6% năm 2013 và từ 2,7% xuống 2,6% năm 2014. Trên thực tế, tăng trưởng GDP của Mỹ đã giảm đáng kể trong quý III/2013 do niềm tin tiêu dùng giảm, sau hai quý đầu có nhiều cải thiện.

Tăng trưởng kinh tế của Eurozone không ổn định trong năm 2013, tuy nhiên dự báo có dấu hiệu hồi phục trong năm 2014. GDP quý I/2013 đạt -0,2% (quý so với quý), sau đó, đã tăng đạt 0,3% trong quý II/2013, tuy nhiên GDP quý III/2013 đã giảm và chỉ đạt 0,1%. Do nhu cầu toàn cầu tăng lên và các điều kiện cho vay trong lĩnh vực tư nhân dần được cải thiện trong quý III/2013 nên IMF đã điều chỉnh tăng dự báo GDP của khu vực này lên mức -0,4% trong năm 2013 và 1,0% trong năm 2014.

Tăng trưởng của Nhật Bản đã giảm trong 3 quý đầu năm 2013, tuy nhiên các hoạt động kinh tế trong quý IV/2013 và quý I/2014 được dự báo sẽ cải thiện. Trong năm 2014, tốc độ tăng trưởng sẽ giảm do Chính phủ Nhật sẽ giảm quy mô các gói kích thích giảm cùng với tăng thuế tiêu dùng. Theo IMF (tháng 10/2013) và UNCTAD (tháng 9/2013), tăng trưởng của Nhật sẽ đạt 2,0% trong năm 2013 nhưng năm 2014 chỉ đạt 1,2%.

Kinh tế Trung Quốc có dấu hiệu hồi phục trong năm 2013, tuy nhiên, có thể chậm lại trong năm 2014. Nguyên nhân chính là do chương trình mở rộng tín dụng có thể không bền vững trong dài hạn. IMF đã hạ dự báo GDP của Trung Quốc xuống 7,6% trong năm 2013 và 7,3% trong năm 2014 (giảm tương ứng 0,2% và 0,4% so với dự báo tháng 7/2013). Tương tự, UN cũng đã hạ dự báo GDP của Trung Quốc xuống 7,7% và 7,5% trong năm 2013 và 2014 (giảm tương ứng 0,1% và 0,2% so với dự báo tháng 5/2013).

Kinh tế ASEAN - 5 có xu hướng tăng trưởng chậm trong năm 2013. Trong đó, kinh tế Philippines tăng trưởng mạnh, GDP đạt 7,7% trong quý I/2013, nhưng sau đó, đã giảm chỉ còn 7,5% trong quý II/2013 và xuống 7,0% trong quý III/2013 (theo năm). Tăng trưởng tại Philippines có được chủ yếu là do chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu công tăng mạnh cùng với đầu tư tăng. Cùng chung xu hướng giảm, tại Indonesia, GDP cũng đã giảm từ mức 6,0% trong quý I/2013 (năm so với năm) xuống còn 5,8% trong quý II/2013 và chỉ đạt 5,6% trong quý III/2013.

Tại Thái Lan, GDP đã giảm từ mức 5,4% trong quý I/2013 xuống còn 2,9% trong quý II/2013 do nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu sụt giảm và tiếp tục giảm xuống còn 2,7% trong quý III/2013 do sự sụt giảm từ tiêu dùng của các hộ gia đình và đầu tư giảm.

Lạm phát giảm tại nhiều quốc gia và khu vực

Giá hàng hóa trên thị trường thế giới trong năm 2013 nhìn chung diễn biến theo xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước do tăng trưởng chậm lại của các nước mới nổi. Giá cả hàng hóa giảm đã làm giảm áp lực lạm phát tại nhiều khu vực và các nước. Theo IMF, áp lực lạm phát giảm tại nhiều quốc gia do hai nguyên nhân: (i) chênh lệch sản lượng chưa được thu hẹp dù đã có sự phục hồi kinh tế tại các nền kinh tế lớn; (ii) giá cả hàng hóa đã hạ nhiệt trong bối cảnh nguồn cung được cải thiện và nhu cầu tăng trưởng thấp hơn từ các nền kinh tế chủ chốt trong khu vực các nước mới nổi và đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc.

Đồng USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền

Chỉ số giá đồng USD tăng so với hầu hết các đồng tiền khác trên thị trường tiền tệ. Tính trung bình trong tháng 12 năm 2013 (tính đến 22/12/2013), đồng USD tăng giá so với các đồng tiền: Đô la Úc (2,5%) và ở mức 0,88; Yên Nhật (1,97%) và ở mức 104,42; Won Hàn Quốc (0,34%) và ở mức 1061,35; trong khi chỉ giảm giá so với đồng Bảng Anh (1,14%) và ở mức 1,36; đồng Nhân dân tệ (0,03%) và ở mức 6,07.

Xu hướng dịch chuyển dòng vốn

Theo ước tính của OECD, dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2013 sau một năm suy giảm. FDI toàn cầu trong quý I/2013 đạt 355 tỷ USD (tăng 12% so với quý IV/2012) do vốn đầu tư tăng mạnh từ các quốc gia thuộc nhóm G-20 không phải thành viên OECD, đặc biệt là Liên bang Nga (vốn đầu tư ra nước ngoài tăng gấp 7 lần so với quý IV/2012, đạt 56 tỷ USD). Theo IMF, dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các nước mới nổi và đang phát triển có khả năng giảm trong giai đoạn 2013 - 2014.

Ngược lại, dòng vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc kể từ năm 2009 đến nay vẫn tiếp tục tăng do tiết kiệm tăng mạnh trong giai đoạn 2000 - 2006 từ xuất khẩu và đầu tư đã thúc đẩy khối tư nhân của Trung Quốc tìm kiếm đầu tư gián tiếp ra nước ngoài vào các tài sản an toàn hơn, điển hình là các quỹ tương hỗ và quỹ hưu trí.

Thương mại toàn cầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại

Thương mại toàn cầu có thể hồi phục vào năm 2014, tuy nhiên, vẫn thấp hơn mức trung bình 5,4% của cả giai đoạn 1982 - 2012. Theo đó, WTO (tháng 09/2013) dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2013 tăng 2,5% và năm 2014 tăng 4,5% (giảm tương ứng 0,8% và 0,5% so với dự báo tháng 04/2013) do các cú sốc về kinh tế vĩ mô và xuất hiện nhiều hình thức bảo hộ thương mại mới.

Những thách thức đối với kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới được dự báo sẽ hồi phục trong năm 2014, tuy nhiên ngoài những rủi ro hiện hữu thì cũng đã xuất hiện những rủi ro mới tác động đến kinh tế các nước và khu vực thông qua hai kênh truyền dẫn chủ yếu là thương mại quốc tế và tài chính quốc tế. Điều này đặt ra những thách thức trong ngắn hạn và dài hạn đòi hỏi các quốc gia cần có những phản ứng chính sách phù hợp để đối phó:

Một là, nếu các thỏa thuận về mức trần nợ công của Mỹ không đạt được trong năm 2014, nền kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục lâm vào cuộc khủng hoảng mới. Trong ngắn hạn, nếu tiếp tục những bất đồng dẫn đến việc đóng cửa Chính phủ lâu hơn sẽ tạo ra tác động xấu tới nền kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế toàn cầu.

Hai là, rủi ro về khả năng thu hẹp dần các chương trình kích thích tiền tệ của Mỹ trong thời gian tới. Theo đó, khu vực Đông Á- Thái Bình Dương cần phải sẵn sàng đối phó với sự gia tăng lãi suất từ các nền kinh tế phát triển. Dự kiến, với tốc độ nới lỏng định lượng của gói QE3 như hiện tại thì đến năm 2015, Mỹ sẽ đạt được mục tiêu đưa tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 6,5%, khi đó nhiều khả năng Mỹ sẽ thu hẹp gói nới lỏng định lượng dẫn đến việc tăng lãi suất. Dòng vốn khi đó sẽ đảo chiều ra khỏi các quốc gia mới nổi và đang phát triển để quay trở lại các nước phát triển hưởng lãi suất cao hơn.

Ba là, vấn đề nợ công châu Âu chưa thể được giải quyết trong trung và dài hạn gây khó khăn cho tăng trưởng toàn cầu. Dư địa chính sách tài khóa không nhiều nên có khả năng gây khó khăn trong nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng của khu vực và thách thức đối với tăng trưởng kinh tế thế giới. Mục tiêu củng cố tài khóa cũng đồng nghĩa với việc các nước phát triển sẽ có những động thái cải cách thuế gây ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia khác qua kênh trao đổi thương mại hàng hóa với thị trường các nước khác. Ngoài ra, nguy cơ từ tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc trong các năm sắp tới có thể tác động tiêu cực đến các nước xuất khẩu sang thị trường này.

Bốn là, tỷ lệ thất nghiệp liên tục ở mức cao, đặc biệt ở các nước phát triển, vẫn là thách thức chính sách trong trung và dài hạn bởi thất nghiệp cao tạo gánh nặng cho xã hội khi mà chính phủ phải chi một khoản không nhỏ cho các vấn đề an sinh - xã hội và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Tác động đến Việt Nam

Các tổ chức đều dự báo kinh tế Việt Nam sẽ có dấu hiệu phục hồi trong năm 2014, cụ thể IMF và WB cùng đưa ra mức dự báo tăng trưởng đạt 5,4%, ADB dự báo 5,5% (mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2012). Đà tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2013 cùng bước tiến trong việc thực hiện các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ là hai trong số những nguyên nhân chính khiến các tổ chức quốc tế nâng mức dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2014.

ADB hạ dự báo lạm phát của Việt Nam trong năm 2014 xuống mức 7,2% (giảm 1% so với dự báo tháng 7/2013) do giá một số mặt hàng đã được kiểm soát và diễn biến ổn định. Theo ADB, chính sách tiền tệ có xu hướng nới lỏng có thể kích thích lạm phát tăng nhẹtrở lại trong năm 2014. Trong khi đó, IMF điều chỉnh tăng dự báo lạm phát cho cả năm 2014 lên mức 7,9% (tăng 0,5% so với dự báo tháng 7/2013).

Những biến động và thách thức của kinh tế toàn cầu đã và đang tác động đến Việt Nam trên các kênh chủ yếu sau:

Thứ nhất, trong năm 2014, việc Mỹ điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ lãi suất có thể gây tác động nhất định đến thị trường tài chính ngân hàng của Việt Nam. Với tỷ giá trong nước được khống chế bằng biên độ cố định, việc tăng lãi suất bằng USD có thể làm tăng lãi suất điều hành đồng nội tệ trong ngắn hạn. Trong điều kiện Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện những biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thì việc tăng lãi suất có thể có tác động tiêu cực đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

Ngoài ra, theo IMF, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh lãi suất của Mỹ. Thêm vào đó, việc tăng lãi suất của FED sẽ tạo hiệu ứng rủi ro rút vốn gián tiếp trong ngắn hạn và vốn trực tiếp trong dài hạn ra khỏi các nước mới nổi và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Do đó, cần có biện pháp chủ động, linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tỷ giá và lãi suất, nhằm ứng phó với các cú sốc về phản ứng chính sách tiền tệ từ Mỹ.

Thứ hai, trước thực tế kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường phát triển và mới nổi (đặc biệt là Mỹ) ngày càng tăng trong thời gian qua, Việt Nam có thể chịu nhiều ảnh hưởng từ việc điều chỉnh chính sách tài khóa của Mỹ. Nợ công vẫn tăng trong các năm tới (theo dự báo của các tổ chức) làm gia tăng khả năng thắt chặt tài khóa hơn nữa (thông qua các biện pháp tăng thuế) sẽ tác động trực tiếp lên cầu hàng hóa nhập khẩu tại các nước phát triển.

IMF đã cảnh báo về nguy cơ truyền dẫn rủi ro tài khóa thông qua kênh thương mại quốc tế từ các nước phát triển như Mỹ và Eurozone sang các nước đang phát triển châu Á, trong đó có Việt Nam. Tương tự, các nước mới nổi (trong đó có Ấn Độ) đang tiến hành điều chỉnh tăng giá một số hàng hóa như thực phẩm (mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam) cũng sẽ gây khó khăn nhất định đến việc tiêu thụ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường này.

Thứ ba, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại có thể làm giảm kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong những năm tới. Kim ngạch xuất khẩu giảm sẽ gây ra rủi ro đối với cán cân thanh toán, giảm dự trữ ngoại tệ và tác động tới chính sách điều hành tỷ giá, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Xu hướng tạo dựng hàng rào bảo hộ thương mại là nguyên nhân khiến tăng trưởng thương mại toàn cầu có dấu hiệu chậm lại trong năm 2013 và có thể chậm hơn trong các năm tới.

Tài liệu tham khảo:

* Nhóm nghiên cứu tài chính quốc tế gồm: ThS. Lê Phương Ninh, ThS. Nghiêm Thị Thuý Hằng, ThS. Trần Thị Quỳnh Hoa, ThS. Trần Thị Hà, ThS. Vũ Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Phương Thuý.

1. Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2013 (Viện Chiến lược và chính sách Tài chính);

2. Báo cáo Đánh giá công tác điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013, triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2014 (Bộ Tài chính);

3. Báo cáo Tình hình kinh tế xã hội năm 2013 (Tổng Cục Thống kê);

4. Nghị quyết số 54/2013/QH13 về điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

5. Nghị quyết số 53/2013/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2014 .

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 1 - 2014

Từ khóa: Kinh tế thế giới được , Tăng trưởng , kinh tế toàn cầu , tài chính toàn cầu , Eurozone , Mỹ , Lạm phát , Đồng USD , dịch chuyển dòng vốn , Thương mại toàn cầu , dự báo tăng trưởng Các tin đã đưa 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Đẩy mạnh tái cấu trúc hiệu quả thị trường tài chính gắn với tái cơ cấu nền kinh tế Nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái đã định hình trong các năm 2012 - 2013 Tái cơ cấu ngân hàng: Còn nhiều nghi ngại Kiểm toán hoạt động góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn lực Phát triển thị trường bảo hiểm WTO: "thuyền thúng" và "đại dương" FDI có phải là "thần dược" cho Việt Nam? Xu hướng kinh doanh 2014 Thiết lập cơ chế một cửa giải quyết thủ tục đầu tư Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Giải pháp tài chính tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô Ngành Thuế: Tạo động lực quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ thu 2014 Tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2014 (*) EU muốn tạo thêm việc làm trong lĩnh vực kỹ thuật số 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS