Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Thứ sáu 28/03/2014 15:39

(Tài chính) Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nguồn: internet

Từ quý II/2013: Số doanh nghiệp thành lập mới đã tăng trở lại

Điều đáng lưu ý là bắt đầu từ quý II/2013 đến nay, các quý đều có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: quý II/2013 tăng 20,1%, quý III/2013 tăng 18,1%, quý IV/2013 tăng 8%, so với cùng kỳ năm trước.

Tại các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia tăng về số doanh nghiệp thành lập so với cùng kỳ năm 2013: vùng Đồng bằng sông Hồng có 4.942 doanh nghiệp thành lập tăng 10,5%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 746 doanh nghiệp thành lập tăng 35,9%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 2.443 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 974 doanh nghiệp thành lập tăng 133%; vùng Đông Nam Bộ có 7.638 doanh nghiệp thành lập tăng 18,2%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 1.613 doanh nghiệp thành lập tăng 2,5%.

Ngược với xu hướng gia tăng chung của cả nước, một số địa phương vẫn có sự suy giảm về số doanh nghiệp thành lập mới, như: Hải Phòng giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 7,1%; Khánh Hòa giảm 16,6%; Bình Định giảm 36,4%; Sóc Trăng giảm 41,8%; Hậu Giang giảm 42,7%; Cao Bằng giảm 53,8%.

Về lĩnh vực, ngành nghề đăng ký hoạt động, trong quý I/2014 hầu hết đều có sự gia tăng của số doanh nghiệp thành lập mới, đặc biệt, một số ngành có tỷ lệ tăng cao như: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,2%; Kinh doanh bất động sản tăng 22,6%; Thông tin và truyền thông tăng 42,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,4%; Giáo dục và Đào tạo tăng 51,2%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 52,1%; Sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 57,3%.

Số doanh nghiệp khó khăn rơi vào tình trạng ngừng hoạt động trước và trong quý I/2013 quay trở lại hoạt động là 4.622 doanh nghiệp, trong đó tập trung chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng Sông Hồng 1.458 doanh nghiệp (Hà Nội 1.052 doanh nghiệp); vùng Đông Nam Bộ 1.913 doanh nghiệp (Hồ Chí Minh 1.525 doanh nghiệp).

Lĩnh vực có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung nhiều nhất là: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với 1.654 doanh nghiệp.

Quý I/2014, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký là 16.745 doanh nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 3.846 doanh nghiệp, tăng 7,8%; Số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 10.318 doanh nghiệp, tăng 9,3%; Số doanh nghiệp giải thể là 2.581 doanh nghiệp, tăng 13,6%

Ngược với xu hướng tốt lên của doanh nghiệp thành lập mới, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng, như: vùng Đông Nam Bộ tăng 18,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 26,1%.

 Tuy nhiên, một số khu vực được coi là đầu tàu kinh tế đã có xu hướng tốt lên so với cùng kỳ năm 2013 là Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động giảm 3%.

Xem xét các lĩnh vực, ngành nghề doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong quý I/2014, một số ngành có dấu hiệu tốt hơn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm, như: Sản xuất, phân phối điện, nước, gas giảm 5,4%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 14,7%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 33%.

Tuy nhiên, một số ngành, lĩnh vực vẫn có số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng cao như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 52,5%; Giáo dục và đào tạo tăng 27,3%.

Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp dần phát huy tác dụng

Đánh giá về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh là Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, các giải pháp bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy nền kinh tế dần dần vượt qua thời kỳ khó khăn.

Với những chính sách giảm, giãn, hoàn, miễn thuế, phí, lệ phí được ban hành trong năm 2013, thì một số ngành trực tiếp được hưởng lợi từ các chính sách này và có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều trong Quý I năm 2014 như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (1.654 doanh nghiệp); Xây dựng (878 doanh nghiệp); Công nghiệp chế biến, chế tạo (579 doanh nghiệp).

Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, thúc đẩy mặt bằng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên thị trường ngân hàng hạ dần, tác động tích cực đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ sử dụng vốn vay cao là những ngành hưởng lợi nhiều nhất, thể hiện qua số liệu doanh nghiệp tham gia vào các ngành này như: Công nghiệp chế biến và chế tạo (thành lập mới tăng 4 quý liên tiếp), Xây dựng đã tăng 6% trong quý I/2014 so với cùng kỳ năm 2013, trong khi năm 2013 giảm 3,7% so với năm 2012.

Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm so với kế hoạch đã đề ra. Sự chậm trễ trong việc đi vào hoạt động của Công ty Quản lý và khai thác tài sản Việt Nam đã dẫn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị này trong năm 2013 là không rõ nét và vẫn chưa xử lý được vấn đề nợ xấu cũng như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như kỳ vọng đã đặt ra.

Ngành tài chính và ngân hàng vẫn thế hiện tình trạng khó khăn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng tới 58,6% trong năm 2013 so với năm 2012.

Trong Quý I năm 2014, tình hình của khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã có dấu hiệu cải thiện khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 18,9%, ngừng hoạt động, giải thể giảm 14,7%.

Một trong các giải pháp giải quyết hàng tồn kho bất động sản là gói tín dụng 30.000 tỷ hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản và người mua nhà tiếp cận nguồn tín dụng có lải suất thấp, ổn định.

Tuy nhiên, do tiến độ giải ngân của gói tín dụng này quá chậm nên chưa có nhiều tác động hỗ trợ đối với doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dừng hoạt động trong Quý I/ 2014 vẫn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013 (cả năm 2013 tăng 21,9% so với năm 2012)….

Cơ hội đan xen thách thức?

Cuối năm 2013, hầu hết các dự báo về tình hình kinh tế thế giới đều đánh giá tốc độ tăng trưởng năm 2014 sẽ khả quan hơn ở các lĩnh vực và các nền kinh tế. Tuy nhiên, tình hình chính trị bất ổn tại Ukraina và các điểm nóng khác trên thế giới đe dọa đến đà tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đầu năm 2014, đánh dấu lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ và các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Liên bang Nga do căng thăng chính trị tại Ukraina leo thang.

Mặc dù quy mô các biện pháp trừng phạt còn nhỏ, nhưng nếu các bên liên quan không tìm được tiếng nói chung có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa kinh tế mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi chung của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị ứng phó với những khó khăn nảy sinh khi các thị trường xuất khẩu của nước ta như EU, Mỹ, Nga gặp khó khăn.

Tình hình trong nước còn khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ ràng hơn do tình hình kinh tế trong nước đang dần ổn định, cũng như các chính sách kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phát huy tác dụng. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, năm 2014 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,67%-6,3%, chỉ số CPI tăng khoảng 7%-7,5%.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp có những cơ hội sau:

- Sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2014 là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất.

- Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài dự báo sẽ tăng đáng kể trong năm 2014, tạo động lực thúc đẩy đà hồi phục của doanh nghiệp, mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

- Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng do các Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định TPP được Việt Nam ký kết với các nước trên thế giới.

- Lãi suất ngân hàng ở mức hợp lý, giảm gánh nặng chi phí lãi vay của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cũng không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đó là:

- Với việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh chất lượng hàng hóa, quy mô sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước đối tác.

- Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được giải quyết mạnh mẽ, sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt, tiêu dùng nội địa còn yếu là những thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014.

Doanh nghiệp vẫn mong chờ những hỗ trợ

Trong năm 2014, Chính phủ cần tiếp tục các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt sử dụng hàm lượng chất xám, trình độ quản lý cao và giảm dần các ngành tiêu tốn nhiều vốn và lao động nhưng hiệu quả kinh tế thấp.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, trong thời gian tới, Chính phủ vẫn tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công khai, minh bách hóa chính sách, thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh, thông tin doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu.

 Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, cung ứng chuỗi; thu hút, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám; tạo điều kiện, môi trường, chính sách thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.

Đồng thời, đẩy nhanh quá trình giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; khắc phục những yếu kém, tồn tại của thị trường bất động sản như vấn đề hàng tồn kho bất động sản, tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dẫn nhằm củng cố lại niềm tin của người dân; hoàn thiện thị trường chứng khoán theo định hướng trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp.

Triệt để thực hiện lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cổ phần hóa tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

 Ban hành các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng của doanh nghiệp như tăng cường quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa, tình trạng cạnh tranh…

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về những cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong giai đoạn tới. Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: giải thể , quý I , thành lập , doanh nghiệp Việt Nam , nợ xấu , Đồng bằng sông Hồng , Đông Nam Bộ , hàng tồn kho Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ sáu 28/03/2014 14:02

ThS. LÊ MINH LOAN

(Tài chính) “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng” – Thông điệp này liên tục được Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định trong suốt thời gian qua.

Hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức. Nguồn: internet

Linh hoạt đổi mới phương thức điều hành

Từ cuối năm 2011 đến nay, trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và diễn biến kinh tế vĩ mô từng năm, NHNN đã xác định nhiệm vụ trọng tâm và kiên trì theo mục tiêu xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, NHNN đặt trọng tâm vào các giải pháp cụ thể sau:

Một là, điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống;

Hai là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam; hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng, từng bước sắp xếp và đổi mới căn bản thị trường vàng;

Ba là, tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng; triển khai đồng bộ và quyết liệt Đề án tái cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 và thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu.

Đồng thời với đó là đổi mới phương thức điều hành theo hướng điều hành linh hoạt, chủ động dẫn dắt, định hướng thị trường; Kết hợp hài hòa giữa điều hành khối lượng với điều hành giá cả; Phối hợp uyển chuyển giữa các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo bơm và hút tiền linh hoạt với điều kiện thị trường nhưng vẫn ổn định được tỷ giá.

Với việc linh hoạt đổi mới phương thức điều hành, NHNN đã góp phần vào tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Lạm phát bền vững giảm từ 18,13% (năm 2011) xuống còn 6,81% (năm 2012) và duy trì ổn định mức 6-7% (năm 2013 và đầu năm 2014).

Thị trường tiền tệ sau khi biến động và đầy rủi ro đến nay, đã dần ổn định và được cải thiện. Mức tăng tổng phương tiện thanh toán đã thấp hơn nhiều so với trước. Lượng tiền cung ứng phù hợp đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn hoạt động và thanh khoản cho hệ thống TCTD. Nguy cơ đổ vỡ hệ thống theo đó được đẩy lùi, kỷ luật thị trường cũng dần được thiết lập.

Mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh, chỉ trong vòng hai năm, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm từ mức 20-25%/năm về bằng mức lãi suất trong giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay tính đến cuối năm 2013, phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên 7-9%; Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác là 9-11%/năm. Đặc biệt, trong nửa cuối năm 2013, NHNN đã cho phép các TCTD thỏa thuận đối với lãi suất huy động bằng VND kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Việc làm này cho thấy hệ thống NHNN đã rất nỗ lực chia sẻ, hỗ trợ, tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng sản xuất kinh doanh.

Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tăng cường trong quản lý thị trường ngoại hối, đã góp phần cải thiện và nâng cao niềm tin vào VND, hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Những rào cản phía trước

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực nhưng trước những dự báo nền kinh tế thế giới sẽ còn nhiều khó khăn và đầy biến động, hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức, cụ thể như: Kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu tích cực song còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa ổn định vững chắc; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào cầu nước ngoài; sức mua trong nước yếu; lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại.

Bên cạnh đó, dòng vốn vẫn “tắc nghẽn” trong hệ thống ngân hàng, nợ xấu lại ở mức cao; Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng diễn ra chậm; Tiến trình xử lý nợ xấu phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường. Đặc biệt là về tín dụng, tuy đã được cải thiện song mức tăng trưởng vẫn thấp cho dù NHNN đã rất quyết liệt trong việc linh hoạt, đổi mới phương thức điều hành để đẩy mạnh tín dụng trong mấy năm qua.

Nguyên nhân khiến tín dụng tăng thấp là do sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu yếu, vốn khả dụng của các TCTD luôn dư thừa, mặt bằng lãi suất giảm mạnh, hàng tồn kho tăng cao cho nên nhu cầu vay vốn là rất thấp. Điều này được thể hiện rõ ràng qua các Hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố thời gian qua. Số lượng doanh nghiệp tiếp cận được tới vốn vay là rất ít. Có rất nhiều doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng không vay được vốn, không đáp ứng đủ điều kiện vay vốn do tình hình tài chính yếu kém, báo cáo tài chính không rõ ràng, nợ đọng ngân sách lớn…

Hiện nay, cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng tuy đã có song được thực hiện không nhiều bởi sức cầu của thị trường yếu, tồn kho vẫn là mối lo ngại của doanh nghiệp. Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, có tới 73% phản hồi cho rằng hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại của doanh nghiệp. Điều đó cũng khiến các TCTD thận trọng hơn khi cho vay… Như vậy, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không còn là nhiệm vụ mà ngành Ngân hàng có thể tự thân giải quyết, mà cần tới sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cần có sự phối hợp của liên ngành, khi đó mới có thể giải quyết căn bản những yếu kém, nâng cao nội lực kinh tế, nắn dòng vốn đến từng lĩnh vực và thành phần kinh tế hiệu quả.

Giải pháp điều hành hiệu quả

Trước bối cảnh nền kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến khó lường, Chính phủ tiếp tục kiên trì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời quyết liệt thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường, giải quyết nợ xấu, hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh. Trên tinh thần đó, NHNN đã định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động cho năm 2014 và những năm tiếp theo là tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ. Chủ động điều hành linh hoạt tiền cung ứng và các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo thanh khoản và hỗ trợ nguồn vốn tín dụng phục vụ nền kinh tế. Đồng thời, điều hành lãi suất phù hợp và điều tiết lãi suất, góp phần ổn định thị trường, tháo gỡ khó khăn cho thị trường, hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý.

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp xử lý nợ xấu theo Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD ban hành kèm theo Quyết định 843/QĐ-TTg; Tạo khuôn khổ pháp lý cho VAMC, đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu; Điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định giá trị VND; Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối; Bình ổn thị trường vàng, chống “vàng hóa” nền kinh tế. Đặc biệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại các TCTD, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các TCTD hoạt động an toàn và lành mạnh.

Ngoài ra, tiếp tục tính toán và xây dựng các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ để đối phó với khả năng lạm phát tăng cao trở lại khi cầu phục hồi và giá cả các mặt hàng Nhà nước quản lý tiếp tục thực hiện lộ trình tăng giá; Nâng cao chất lượng dự báo thống kê tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và ứng phó kịp thời trước những biến động của nền kinh tế.

Năm 2014, trong khuôn khổ triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, NHNN kiên trì, tiếp tục điều hành hiệu quả chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để đạt mục tiêu đặt ra; Củng cố những kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2012-2013 về kiềm chế lạm phát (mục tiêu là 5-7%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; Duy trì sự ổn định các thị trường tiền tệ, ngoại hối, tỷ giá và vàng. Đẩy mạnh các giải pháp cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu theo đúng lộ trình; Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các TCTD.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 3 - 2014

Từ khóa: chính sách tiền tệ , kinh tế vĩ mô , điều hành , nợ xấu , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , lạm phát , sản xuất kinh doanh , lãi suất Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ ba 25/02/2014 09:17

TS. BÙI TIẾN DŨNG - Bộ Khoa học và Công nghệ

(Tài chính) Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Việt Nam đang dành 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN. Nguồn: internet

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua...

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 - 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Xét về bản chất thì Dự án thử nghiệm là khâu cuối của chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ với nội dung chính là triển khai thực nghiệm, thử nghiệm ở quy mô nhỏ để hoàn thiện kết quả nghiên cứu (sản phẩm mới, công nghệ mới) được tạo ra trong phòng thí nghiệm trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm, các sản phẩm được tạo ra là các vật mẫu (prototype), quy trình sản xuất vật mẫu và tổ chức sản xuất thử loạt nhỏ - loạt “o” (zero) nhằm ổn định chất lượng của sản phẩm cũng như độ tin cậy của công nghệ đã được nghiên cứu và tạo ra trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, phần lớn sản phẩm của các Dự án sản xuất thử nghiệm chưa đi đến thương mại hóa và chưa thể mang lại hiệu quả sinh lợi bằng tiền ngay sau khi kết thúc. Trong thực tế, chỉ có doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định trong việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của sản phẩm do doanh nghiệp thực hiện.

- Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học gồm: Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học; Loại hình triển khai kỹ thuật; Loại hình nghiên cứu phúc lợi xã hội, cơ sở kỹ thuật và khoa học nông nghiệp.

- Phương thức chi ngân sách: Việc phân loại quản lý nguồn lực tài chính KH&CN, cơ chế chi ngân sách được thực hiện căn cứ vào loại hình hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học: Thứ nhất, chi phí cho các cơ quan nghiên cứu khoa học và kinh phí sự nghiệp KH&CN. Thứ hai, đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản, kinh phí nghiên cứu khoa học từng bước thực hiện theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn từ Quỹ phát triển KH&CN. Đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình như sự nghiệp công ích, Nhà nước bao cấp một phần kinh phí nhất định…

Về nguyên tắc, Nhà nước không giảm bớt chi ngân sách cho kinh phí sự nghiệp KH&CN chung và tiếp tục tăng thêm hàng năm. Kinh phí sự nghiệp được giảm xuống vẫn sẽ dùng cho nghiên cứu khoa học, với phương thức vận hành ổn định và chi theo nhiệm vụ.

Đối với các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập, Dự án thử nghiệm là một khâu trong chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ nên hoạt động sản xuất thử nghiệm cũng mang đầy đủ các đặc tính của hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó có tính rủi ro. Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công ở quy mô nhỏ thông qua Dự án sản xuất thử nghiệm, cũng vẫn chịu những rủi ro (cả về công nghệ cũng như về thị trường) trong quá trình áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống, hoặc vẫn không thể áp dụng ngay vào quy mô lớn theo yêu cầu của sản xuất nếu không tiến hành đồng bộ các nghiên cứu khả thi về công nghệ, tài chính, thị trường, kinh tế, môi trường, xã hội...

Theo đánh giá của cơ quan quản lý KH&CN của các bộ ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Y tế…) thì ngoài yếu tố rủi ro, thu hồi kinh phí hỗ trợ thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm gây thêm áp lực đối với các nhà khoa học và các tổ chức KH&CN công lập, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Áp lực thu hồi kinh phí cùng với yếu tố rủi ro trong nghiên cứu được xem là nguyên nhân chính của số lượng hạn chế các dự án sản xuất thử nghiệm, đồng nghĩa với tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống còn thấp trong thời gian qua.

Bộ KH&CN đã trình và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý không thu hồi kinh phí đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ (Quyết định số 62/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó, liên Bộ Tài chính - KH&CN đã ban hành Thông tư 22/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 21/2/2011 hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ kinh phí.

Thứ hai, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN” có nội dung “Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN”. Thực hiện Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015”, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”. Ngày 17/02/2012, Đề án này đã được Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình 315/TTr-BKHCN. Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là nhóm giải pháp để thực hiện đổi mới được nêu trong Đề án với những định hướng đổi mới sau:

Về mức đầu tư: Duy trì mức chi tối thiểu 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN, phấn đấu đạt 2,2% từ năm 2015; Huy động các nguồn vốn ngoài NSNN (sửa Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được trích tối thiểu 10% lợi nhuận chịu thuế để thành lập Quỹ KH&CN của doanh nghiệp hoặc đưa vào Quỹ Phát triển KH&CN của địa phương).

Xây dựng cơ chế để khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải phân tán nguồn NSNN đầu tư cho KH&CN, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả đầu tư: Xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí và quy trình phân bổ kinh phí ngân sách đầu tư cho KH&CN (đặc biệt lưu ý vai trò, quyền hạn của 3 Bộ quản lý tổng hợp liên quan trong xây dựng dự toán, quyết định phương án phân bổ); Xây dựng cơ chế có thể điều tiết ngân sách KH&CN đã phân bổ phù hợp với nhu cầu, năng lực và tình hình thực tế sử dụng ngân sách; Đổi mới quy trình, thủ tục lập kế hoạch ngân sách KH&CN hàng năm (thời điểm phê duyệt nhiệm vụ KH&CN linh hoạt); Xây dựng lộ trình tăng dần tỷ trọng vốn ngân sách sự nghiệp khoa học thông qua các quỹ như Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia.

Đổi mới quy định về dự toán và sử dụng ngân sách KH&CN theo hướng: Xây dựng định mức và quy định bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên của các tổ chức KH&CN công lập trong dự toán các nhiệm vụ KH&CN và nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng; Hoàn thiện cơ chế khoán kinh phí (khoán theo sản phẩm cuối cùng); Đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán; Điều chỉnh và bổ sung các nội dung chi cũng như định mức kinh phí theo từng nội dung chi của nhiệm vụ KH&CN (mua sắm trang thiết bị, mua quyền sở hữu trí tuệ, mua thiết kế, bí quyết công nghệ, phần mềm, thuê chuyên gia, truyền thông, kinh phí dự phòng...); Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi bổ sung Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn và một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác tài chính KH&CN.

Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN

Thứ nhất, nâng cấp cơ sở pháp lý về cơ chế tài chính cho KH&CN. Tiếp tục hoàn thiện Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, đổi mới triệt để các quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Triệt để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm bằng giao theo nhiệm vụ. Loại bỏ tư tưởng duy trì cơ chế hành chính kiểu “xin - cho” trong các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ hai, cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ nghiên cứu và phát triển (R&D). Ở Việt Nam, đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập thường vay vốn để nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các tổ chức tài chính là không dễ dàng vì các khoản vay này luôn bị các tổ chức tài chính coi là có tính rủi ro cao, do các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập dễ tổn thương trước các biến động từ thị trường và nền kinh tế. Vì vậy, để hỗ trợ đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ quốc gia cần đưa vào vận hành cơ chế cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D. Cơ chế này cần có một quy trình xét duyệt bảo lãnh đòi hỏi linh hoạt, nhưng không được thiếu tính chính xác, chặt chẽ và được kiểm toán đầy đủ. Nếu không thì việc duyệt bảo lãnh biến thành cơ chế xin cho tùy hứng, tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh.

Ngược lại, nếu cơ quan duyệt bảo lãnh vì sợ trách nhiệm mà làm việc quá chặt tay, thì các dự án đầu tư R&D – dù có triển vọng tốt nhưng trong bản chất tự thân đã có tính mạo hiểm, sẽ không được bảo lãnh, và không huy động được nguồn vốn cần thiết. Hiện nay, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia là phù hợp nhất. Khoản bảo lãnh này có nhiều hình thức, nhưng mục tiêu chung là đảm bảo các tổ chức cho vay thu hồi khoản nợ trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán. Nhờ vậy, khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay đối với các đơn vị sự nghiệp có dự án triển vọng tốt song không có đủ tài sản thế chấp, hoặc không có hồ sơ tín dụng đầy đặn phù hợp để chứng minh uy tín trả nợ.

Thứ ba, hỗ trợ kinh phí rút ngắn khoảng cách tụt hậu về KH&CN. Trong xu thế phát triển KH&CN hiện nay, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí để các tổ chức KH&CN có thể tiến hành khắc phục khoảng cách tụt hậu về KH&CN qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về sử dụng kết quả KH&CN; Giai đoạn 2: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ; Giai đoạn 3: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu cơ bản.

Để rút ngắn khoảng cách về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, trước hết phải phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng của quốc gia, tăng cường tham gia mạng lưới nghiên cứu ứng dụng quốc tế. Cần hình thành một đội ngũ nhân lực KH&CN đủ mạnh và tương ứng là hệ thống tổ chức R&D, hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu, nguồn vốn đầu tư nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ mới, chiến lược phát triển quốc gia về R&D. Rõ ràng, rút ngắn khoảng cách ở đây khó hơn và khác hẳn việc rút ngắn tụt hậu về ứng dụng kết quả KH&CN. Để khắc phục tình trạng kết quả nghiên cứu bị giữ kín như là bí quyết cạnh tranh, viện nghiên cứu ở nước ta phải có những nghiên cứu khoa học đủ sức “giải mã” phần công nghệ ẩn giấu trong hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường.

Như vậy, có ba điểm mấu chốt trong cơ chế tài chính khi tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập từ nguồn ngân sách cần quan tâm đó là: Có sự độc lập tự chủ cao hơn về tài chính; Các quy trình thủ tục thể hiện một sự linh hoạt và lắng nghe cao hơn đối với các tác giả đề cương nghiên cứu, từ việc cân nhắc lựa chọn thành viên hội đồng thẩm định tới việc đàm phán tài chính cho nhiệm vụ; Nhà nước rất quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, không chỉ trong phạm vi chuyên ngành mà liên ngành và không chỉ trong cộng đồng khoa học mà cả cộng đồng xã hội, kể cả với các dự án nghiên cứu cơ bản.

Đối với Việt Nam, khi xem xét cơ chế tài chính cho các nhiệm vụ KH&CN, cần chú ý đến kết quả đầu ra và quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, kể cả với các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản. Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN cần phải theo phương châm “thà ít mà tốt”. Chỉ có như vậy thì chính sách đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KH&CN mới thực sự hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Các văn bản pháp quy và hướng dẫn hiện hành về tài chính cho KH&CN và một số hướng dẫn khác có liên quan;

2. Trang website http://www.nafosted.gov.vn.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2014

Từ khóa: khoa học công nghệ , cơ chế , nghiên cứu khoa học , nghiên cứu phát triển , tài chính , bảo lãnh , Bộ Khoa Học Và Công Nghệ , thông tư Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn

Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn

Thứ hai 17/02/2014 09:01

(Tài chính) Không ít đại gia Việt gặp khốn khó khi đầu tư ra nước ngoài. Có những dự án đã phải tạm ngừng hoạt động và thậm chí là phá sản, trong khi nhà đầu tư đã chi cả tỷ USD.

Không ít đại gia Việt gặp khốn khó khi đầu tư ra nước ngoài. Nguồn: internet

Họa vô đơn chí, chết vì lạm phát

Tại cuộc họp báo cuối năm vừa qua, ông Phùng Đình Thực, Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), đã thừa nhận "thất bại" bất đắc dĩ ở Venezuela. Sau 3 năm ký kết hợp đồng, mọi kỳ vọng gửi gắm ở dự án 8 tỷ USD, liên doanh khai thác dầu nặng Junin 2 tại quốc gia dầu mỏ này đã phải tạm dừng.

Ông Thực chia sẻ, năm 2013, Venezuela có mức lạm phát lên tới hơn 57%. Tỷ giá chính thức và tỷ giá "chợ đen" chênh lệch nhau tới 10 lần.

"Với tình hình kinh tế như vậy thì không có nhà đầu tư nào chịu nổi khi chuyển tiền vào đây thuê các đơn vị dịch vụ của Venezuela triển khai dự án", ông Thực nói.

Đây có lẽ là quyết định đầy tiếc nuối của PVN. Không dễ gì từ bỏ giấc mơ lợi nhuận ở quốc gia dầu mỏ này khi mà tình hình chung là ra nước ngoài, 10 dự án thăm dò, nếu có 2 dự án thành công thì coi như là thắng lợi. Lô Junin 2 nằm ở vành đai dầu Orinoco, khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỷ thùng.

Hơn nữa, vụ hợp tác trên là dự án đầu tư ra nước ngoài lớn nhất của Việt Nam tính đến nay. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này sẽ bằng 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam.

Hiện, tập đoàn này đang đàm phán với đối tác để điều chỉnh lại hợp đồng và sẽ tiếp tục khi nền kinh tế nước này ổn định hơn.

Trước đây, PVN cũng đã phải đặt dấu chấm hết cho 6 dự án dầu khí ở nước ngoài mà không thu được lợi nhuận nào từ các dự án này. Số tiền chi cho 6 dự án đó là khoảng 29,02 triệu USD.

Không chỉ PVN, nhiều đại gia khác cũng gặp khó ở những lĩnh vực đòi hỏi thời gian thu hồi vốn dài, khó lượng hóa ngay tính hiệu quả như khai khoáng, dầu khí, cao su, điện.

Chẳng hạn như Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) trước đây có 5 dự án đầu tư ở Lào và Campuchia, nhưng sau khi nghiên cứu khảo sát thì Vinacomin đã buộc phải kết thúc một dự án tại Lào. "Ông lớn" này mất trắng khoảng 1,56 triệu USD ở đây. Cùng đó, 3 dự án sau khi khảo sát lại cho thấy, khả năng phát triển mỏ là thấp vì trữ lượng không đủ lớn để đầu tư khai thác, chế biến quy mô lớn.

Không dễ kiếm đô la ở nước ngoài

Tuy nhiên, cạnh tranh khốc liệt ở xứ ngoại, phụ thuộc chính sách kinh tế, nguồn nhân lực và tình hình chính trị nước sở tại nên các bài toán kinh doanh của các đại gia Việt dù hoàn hảo đến mấy cũng luôn tiềm ẩn đầy rủi ro.

Ngay như Viettel, đại gia đã gặt hái thành công ở 7 quốc gia đầu tư thì năm qua phải ngậm ngùi chấp nhận thất bại trong cuộc đua xâm nhập thị trường viễn thông Myanmar. Quyền đầu tư mạng di động cho đất nước 60 triệu dân nhưng mới chỉ có 10% người dân sử dụng dịch vụ này đã thuộc về 2 tập đoàn viễn thông của Qatar và Nauy.

Sau cú trượt thầu trên, vị phó Tổng giám đốc Viettel chỉ tiết lộ tập đoàn đã cố gắng hết sức, cả về giá thầu, đưa ra các cam kết hấp dẫn với Chính phủ Myanmar nhưng không thắng được với giá bỏ thầu rất cao của hai đối thủ trên.

Tại hội nghị tham tán thương mại tháng 12 năm ngoái, ông Hoàng Quốc Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã chia sẻ, không ít doanh nghiệp tại tỉnh đã trắng tay sau khi cầm cố tài sản vay tiền sang Campuchia trồng cao su.

Cây cao su được coi là vàng trắng. Theo ước tính của một đại gia trong lĩnh vực này, một ha cao su có thể cho ra 2 triệu tấn mủ/năm, tương đứng 2.500 tỷ/năm. Còn nếu bán cây với giá 350.000 đồng/cây thì 1 ha cao su cho thu hoạch 180 triệu đồng/ha. Với suất đầu tư thấp ở Lào và Campuchia, lợi nhuận sẽ càng lớn gấp vạn lần nếu như các đại gia  được cấp phép diện tích lớn.

Song theo các chuyên gia kinh tế, lợi nhuận đó còn phải gắn với giá thị trường cao su tại thời điểm kinh doanh nên rủi ro thua lỗ vẫn luôn rình rập. Do đó, dù nắm trong tay 120.000 ha cao su ở Lào và Campuchia, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cũng phải đợi 3-4 năm nữa, mới có thể cầm chắc được lợi nhuận mang về hay không.

Đôi khi, dự án tưởng đã đến ngày "hái quả" rồi thì có khi, doanh nghiệp vẫn bị "sao quả tạ" rơi trúng đầu vì những rủi ro nằm ngoài tiên đoán.

Chẳng hạn như câu chuyện của bầu Đức (ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) với vụ nhập 30.000 tấn đường từ Lào về Việt Nam tinh chế để xuất sang Trung Quốc. Kế hoạch kinh doanh này bị ách tắc cả năm trời mới giải quyết được vì gặp phải làn sóng phản ứng dữ dội từ phía Hiệp hội mía đường Việt Nam.

Tuy nhiên, theo một chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực đầu tư này, thất bại là mẹ thành công. Những vấp váp trên chỉ là chuyện thường ngày của bất cứ nhà đầu tư nào ra nước ngoài. Có bước ra thế giới thì thương hiệu Việt mới phát triển được, tầm vóc doanh nghiệp mới lớn được. Và cũng như việc kinh doanh trong nước, nước lên thì thuyền lên, nước xuống thì thuyền xuống.

Song, cách tốt nhất để tránh mọi rủi ro là các nhà đầu tư Việt Nam nên phối hợp với cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để có sự hỗ trợ lớn nhất về thông tin, chính sách.

Theo vef.vn

Từ khóa: Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam , cao su , Lào , Tập đoàn Than Khoáng sản , Venezuela , Campuchia , nước ngoài , lợi nhuận Các tin đã đưa Đến 2015, sẽ cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước Công bố 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất VN năm 2013 Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm dòng vốn ngoại mới Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Mai Linh và câu chuyện lật ngược thế cờ Nhiều doanh nghiệp lớn chờ IPO Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thiếu bản sắc, nhiều khúc mắc Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn Vinh danh tư vấn viên bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra

Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra

Thứ ba 18/02/2014 08:00

TS. Nguyễn Đình Cung

(Tài chính) "Tái cơ cấu kinh tế” chắc chắn là một trong số các cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây, cho thấy sự quan tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, từ nhận thức đến hành động vẫn còn một khoảng cách khá xa và không dễ lấp đầy.

"Tái cơ cấu kinh tế” là một trong số các cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây. Nguồn: internet

“Ngập ngừng” trong tái cơ cấu kinh tế

Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

Nội dung cơ bản của tái cơ cấu đầu tư giai đoạn 2013 - 2020 là giảm đầu tư nhà nước, tăng đầu tư tư nhân, nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng, đặt đầu tư xã hội trong mối quan hệ cân đối với các biến số cơ bản khác của nền kinh tế.

Kết quả đạt được khá rõ nét trong 2 năm qua là tỷ trọng đầu tư/GDP đã giảm đáng kể, từ mức bình quân 39% trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn hơn 33% năm 2011; 30,5% năm 2012 và 30,4% năm 2013. Đồng thời, tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế đã giảm từ 136% GDP năm 2010 xuống còn 121% năm 2011 và còn 108% năm 2012. Tính theo giá so sánh, số vốn đầu tư nhà nước không tăng trong 3 năm gần đây; tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm từ 51,8% thời kỳ 2001-2005, xuống còn khoảng 39% thời kỳ 2006-2010 và 37,4% trong 2 năm 2011-2012 và đặc biệt, đến năm 2013 là 40,4%, tăng 8,4% so với năm trước. Bên cạnh đó, đã đình hoãn, cắt giảm số lượng lớn dự án đầu tư; phân bổ vốn nhờ đó cũng đã tập trung hơn; ý thức trách nhiệm và kỷ cương nhà nước trong quản lý đầu tư công bước đầu được cải thiện.

Song, việc tái cơ cấu đầu tư công trong mấy năm qua về cơ bản mới chỉ mang tính tình huống, ngắn hạn; chủ yếu xử lý thực trạng quyết định đầu tư vượt quá khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ (đã tích tụ từ nhiều năm) hơn là thiết lập một thể chế mới để quản lý vốn đầu tư nhà nước và một hệ thống động lực mới thúc đẩy các bộ, địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước. Chỉ thị 1792/CT-TTg, ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ chủ yếu là để giải quyết các vấn đề của quá khứ hơn là tạo khung khổ pháp lý nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong tương lại.

Trong khi thể chế mới cho quản lý phân bổ và sử dụng vốn đầu tư nhà nước chưa được thiết lập, thì có không ít ý kiến cho rằng cần nới lỏng chính sách tài khóa, gia tăng vốn đầu tư nhà nước. Cụ thể:

(i) Hiện nay, trước tình trạng suy giảm liên tục của nền kinh tế, trong 2 năm vừa qua, không ít ý kiến cho rằng, cần mở rộng đầu tư nhà nước, tăng cầu khu vực nhà nước, thay thế cho cầu tư nhân đang suy yếu.

(ii) Có ý kiến cho rằng, cắt giảm đầu tư nhà nước thực hiện theo Chỉ thị 1792/CT-TTg quá mạnh đã gây “shock” cho nền kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm suy giảm cầu, suy giảm kinh tế; các dự án dở dang, không có vốn để hoàn thành gây nhiều lãng phí cho xã hội. Ý kiến này cũng gây nên áp lực cho Chính phủ phải gia tăng chi tiêu đầu tư, ít nhất là để hoàn thành các dự án được coi là dở dang, nếu không hoàn thành sẽ gây lãng phí cho xã hội.

(iii) Các địa phương nợ xây dựng cơ bản đến khoảng 91 nghìn tỷ đồng và có thể rồi Chính phủ sẽ phải chi trả, hoặc ít nhất sẽ cho phép chính quyền địa phương huy động trái phiếu để xử lý. Điều này có nghĩa là vốn huy động sẽ tiếp tục dùng để xử lý vấn đề quá khứ, thanh toán cho một phần không nhỏ các dự án còn dở dang, hoặc đã hoàn thành, nhưng kém hiệu quả.

(iv) Cuối cùng, thể chế hành chính chia cắt, phân tán theo địa giới hành chính với mỗi tỉnh, thành phố như “một nền kinh tế”, thì nguy cơ tái diễn đầu tư phân tán, dàn trải và kém hiệu quả vẫn rất lớn. Hiện tượng đầu tư theo phong trào sẽ vẫn tiếp diễn.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Ngày 17/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”. Đề án tổng thể đã xác định một số nội dung cơ bản, bao gồm: Định vị lại vai trò và thu hẹp phạm vi kinh doanh của DNNN; Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn…

Trong hơn 1 năm qua, kết quả đạt được trong tái cơ cấu DNNN thường được nhắc đến, bao gồm: Đã phê duyệt được đề án tái cơ cấu đối với 68 tập đoàn, tổng công ty; về cơ bản đã hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015 trên phạm vi toàn quốc; Phần lớn các tập đoàn, tổng công ty đã rà soát, phân loại và xác định danh mục ngành nghề, phạm vi kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan và ngành nghề không liên quan.

Tuy vậy, so sánh thực tế các kết quả đạt được với định hướng tái cơ cấu nói trên, các giải pháp đang thực hiện chưa thật bám sát nội dung và yêu cầu chung. Cụ thể như sau:

Một là, tiến trình cổ phần hóa đang hết sức chậm; năm 2012 cả nước chỉ cổ phần hóa được 13 doanh nghiệp (bằng 14% kế hoạch) và trong 7 tháng đầu năm 2013 cũng chỉ cổ phần hóa 16 doanh nghiệp.

Hai là, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành đang gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể như: Tư duy, tiêu chí và cách thức thực hiện bảo toàn và phát triển vốn chưa phù hợp với cơ chế thị trường; Một số phương thức bảo toàn vốn theo quy định hiện hành còn hình thức và thiếu linh hoạt, làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp; Chưa thật sự thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, kinh doanh sáng tạo và cẩn trọng để bảo toàn và phát triển vốn… Nếu không có thay đổi về tư duy, cách tiếp cận và có những giải pháp kỹ thuật phù hợp, tương ứng, thì khó hoàn thành trước năm 2015 như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa XI) đã xác định.

Ba là, việc áp đặt đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hầu như chưa có chuyển biến, kể cả trong tư duy, quan niệm và hành động chính sách. Ví dụ, DNNN vẫn được sử dụng làm công cụ, là lực lượng vật chất để Nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nền kinh tế. Quan niệm và cách làm này không phù hợp với vai trò nhà nước nói chung và DNNN nói riêng trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, hàng loạt các nguyên tắc khác của thị trường vẫn chưa thực sự áp dụng đối với DNNN, như: Chưa đảm bảo nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu”; DNNN không áp dụng đầy đủ giá vốn theo cơ chế thị trường.

Bốn là, chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và thực tiễn quản trị tốt đối với DNNN. Yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị tốt theo thông lệ thị trường cũng đã được xác định từ lâu. Ví dụ, 30 quy tắc quản trị tốt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về quản trị tập đoàn, tổng công ty hiện nay vẫn chưa được áp dụng ở nước ta. Bên cạnh đó, khi cổ phần hóa chậm, thoái vốn đầu tư ngoài ngành gặp khó khăn, thì việc giảm bớt, thu hẹp phạm vị hoạt động của DNNN cũng chỉ là “chủ trương”, định hướng…

Về cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại

Cơ cấu lại các ngân hàng thương mại được xác định và phân chia thành 3 giai đoạn chính: tái cơ cấu các ngân hàng thương mại yếu kém, xử lý nợ xấu và tái cơ cấu toàn diện tất cả các ngân hàng.

Nhìn chung, đã đạt được một số kết quả, như: Đảm bảo được thanh khoản, an toàn của hệ thống đã được kiểm soát; Nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi; Các ngân hàng yếu kém đang được tái cơ cấu theo phương án đã được phê duyệt; Đề án "Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng" và Đề án "Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)" được phê duyệt tại Quyết định 843/QĐ-TTg, ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Theo báo cáo của Thống đốc Nguyễn Văn Bình tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 (ngày 24/12/2013), tính đến hết ngày 23/12, VAMC đã mua được 32.000 tỷ đồng nợ xấu.

Tuy vậy, cho đến nay, thông tin chính thức về kết quả và vấn đề tái cơ cấu các ngân hàng thương mại nhìn chung còn ít, thường chưa được kiểm chứng, như: cổ đông và cơ cấu sở hữu, vốn và cơ cấu vốn, kết quả kinh doanh từ thời điểm tái cơ cấu, số nợ xấu, cơ cấu nợ xấu và các con nợ chủ yếu, những thay đổi trong quản trị nội bộ, giải pháp tái cơ cấu tiếp theo và thời hạn hoàn thành tái cơ cấu đối với từng ngân hàng cụ thể…

Không ít ý kiến nghi ngại về sự thành công của cách thức “tái cơ cấu tự nguyện” đối với các ngân hàng thương mại yếu kém. Bởi, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không thể sử dụng những con người “gây ra vấn đề” để xử lý các vấn đề mà họ gây ra. Tình trạng sở hữu chéo dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn chưa được hạn chế, chưa được minh bạch hóa và chưa kiểm soát một cách có hiệu quả.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 31/12/2012, tỷ lệ nợ xấu là hơn 8,8% và đến cuối tháng 2/2013 giảm còn 6%, tiếp đến cuối tháng 9/2013 giảm chỉ còn chiếm 4,62% tổng dư nợ, với số tiền là 142,33 ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, theo ước tính của Nguyễn Xuân Thành và nhóm nghiên cứu Fulbright (2013), số nợ xấu thực sự của các tổ chức tín dụng có thể cao gấp 3 lần con số công bố chính thức.

Hiện nay, việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu; cách thức xử lý nợ xấu như hiện nay có thể chỉ là “bỏ bớt” nợ xấu ra khỏi các tổ chức tín dụng, hoặc bằng biện pháp kế toán chuyển “nợ xấu” thành “chưa xấu”, hơn là loại bỏ nợ xấu ra khỏi nền kinh tế. Vì vậy, gánh nặng chi phí tài chính của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp không thanh toán nợ đúng hạn vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Các doanh nghiệp thuộc loại này, dù có cơ hội kinh doanh, có dự án đầu tư hiệu quả, vẫn có thể không tiếp cận được tín dụng ngân hàng, hoặc tiếp cận được với chi phí cao hơn đáng kể so với bình thường. Vì vậy, thị trường tín dụng chưa thể hoạt động bình thường, chưa thực hiện được đầy đủ chức năng trung gian tài chính trong phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng của nền kinh tế.

Và các yếu tố thúc đẩy

Các yếu tố thúc đẩy và tạo điều kiện để tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng bao gồm: ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nhanh nguồn nhân lực, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng, theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), thì chất lượng cả 4 yếu tố nói trên của nước ta không tiến bộ nhiều trong thời gian gần đây, thậm chí có yếu tố đang bị xấu đi.

Về ổn định kinh tế vĩ mô, năm 2010 chỉ số kinh tế vĩ mô của nước ta đạt 4,8/7 điểm và được xếp thứ 65/142 nền kinh tế; năm 2013, điểm số này giảm xuống còn 4,4 và xếp hạng 87/148 nền kinh tế. Trên thực tế, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ổn định dần, liên tục được cải thiện, nhất là từ năm 2012 đến nay. Lạm phát liên tục giảm từ khoảng 18% năm 2011 và nay ổn định dần ở mức khoảng 6-7%/năm (năm 2013 là 6,04%), tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ gia tăng; các cân đối vĩ mô cơ bản cũng được cải thiện. Kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin thị trường được khôi phục là yếu tố quan trọng không thể thiếu để tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Về phát triển nhanh nguồn nhân lực, chỉ tiêu này được đo bằng chất lượng giáo dục học nghề và đại học cũng không có cải thiện nhiều; tăng thêm được 0,2 điểm (từ 3,5 điểm năm 2010 lên 3,7 điểm năm 2012, và tương ứng từ thứ hạng 103/142 tăng lên 95/148 nền kinh tế).

Với chất lượng kết cấu hạ tầng, những tiến bộ về chất lượng hạ tầng những năm qua chủ yếu nhờ vào phát triển mạng thông tin di động; còn chất lượng của tất cả các loại kết cấu hạ tầng khác, như: đường sắt, đường bộ, hàng không, cảng biển, cung cấp điện... đều không được cải thiện hoặc kém đi theo mặt bằng quốc tế.

Về hoàn thiện thể chế, theo giới chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách trong nước, đây là điểm yếu nhất trong hệ thống kinh tế của chúng ta hiện nay. Cụ thể là, điểm số và xếp hạng chất lượng thể chế năm 2008 là 3,9/7 điểm, vị trí 63/133 và đến năm 2013 giảm xuống còn 3,5 điểm, vị trí 98/148. Điều đó cho thấy, những nỗ lực cải cách và công việc đã làm ở các lĩnh vực nói trên là chưa phù hợp; hoặc chưa đủ rộng, đủ mạnh và đủ sâu để tạo nên sự khác biệt nhằm đạt kết quả như mong muốn.

Đi sâu vào vấn đề, thể chế bao gồm 3 nội dung chính là: “luật chơi”, “cách chơi” và “người chơi”. Nhìn nhận chung, cách hình thành “luật chơi” và nội dung của “luật chơi” chưa có nhiều thay đổi. “Luật chơi” vẫn tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào các văn bản hướng dẫn thi hành luật (nghị định, thông tư) và các quyết định điều hành mang tính hành chính của các cấp có thẩm quyền. “Luật chơi” nói trên có thể đang quy định “cách chơi” theo lối “xin-cho” và “ban-phát”. “Luật chơi” và “cách chơi”  cũng sẽ quy định và lựa chọn “người chơi”; họ phải là những người có quyền “xin” và có thể xin được và người có quyền “cho”.

Bởi vậy, đột phá về thể chế phải là những cải cách mở rộng dư địa hoạt động và nâng cấp mức độ phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khống chế, hạn chế và dần triệt tiêu cơ chế “xin-cho, ban-phát”, thu hẹp khu vực kinh tế địa tô; khuyến khích và không ngừng mở rộng khu vực kinh tế tạo lợi nhuận, tạo giá trị gia tăng thông qua đổi mới quản lý, đổi mới phương thức sản xuất, đổi mới và chuyển giao công nghệ, cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường hiện đại.

Một số kiến nghị

Hiện nay, nhận thức, quan điểm và quan niệm về bản chất, nội dung của tái cơ cấu kinh tế vẫn còn chưa giống nhau, ngay cả trong các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách. Tác giả cho rằng, tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng về bản chất phải là cuộc cải cách lần hai; là quá trình thay đổi sâu rộng và nâng cấp thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, tạo hệ thống động lực khuyến khích mới theo chuẩn mực kinh tế thị trường phổ biến và hiện đại, để thông qua đó thực hiện phân bổ lại và sử dụng nguồn lực quốc gia có hiệu quả hơn. Và như vậy, đổi mới kinh tế phải đi cùng với đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị.

Theo tác giả, để tái cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả cao, đổi mới nhận thức, tư duy vẫn là điều kiện không thể thiếu không chỉ đối với giới lãnh đạo, mà cả giới chuyên gia hoạch định và tư vấn chính sách. Sự thay đổi cần thiết, đầu tiên là phải nhanh chóng chuyển trọng tâm chính sách phục hồi kinh tế từ chú trọng quản lý tổng cầu sang các giải pháp cải cách phía cung của nền kinh tế.

Trước hết, cần cải thiện môi trường kinh doanh, giảm và đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ. Cụ thể là:

Bỏ 4 thủ tục gia nhập thị trường sau đăng ký, gồm: thủ tục đăng báo, thủ tục đăng ký lao động, đăng ký công đoàn và đăng ký bảo hiểm. Việc mở tài khoản ngân hàng có thể kết hợp và lồng với đăng ký kinh doanh.

Bỏ yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và giảm chi phí xuất khẩu và nhập khẩu… Tính toán sơ bộ, nếu chúng ta giảm được 15 ngày trong thực hiện thủ tục xuất - nhập khẩu, thì GDP có thể tăng thêm hơn 27 tỷ USD.

Ngoài ra, còn có thể thực hiện hàng loạt các thay đổi khác, như: ban hành, thực hiện trình tự đặc biệt cho việc giải quyết tranh chấp và thực thi các tranh chấp hợp đồng có giá trị nhỏ; hay đơn giản hóa thủ tục để được cung cấp điện…

Thứ hai, đối với tái cơ cấu đầu tư công

Thay đổi chính sách phục hồi tăng trưởng theo hướng “trọng cung”. Nếu không thay đổi cơ bản cách tiếp cận trong chính sách phục hồi tăng trưởng và vẫn tiếp tục ưu tiên các giải pháp quản lý tổng cầu, thì các cải cách, thay đổi phía cung theo hướng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bị xem nhẹ, không đầy đủ, không phát huy tác dụng. Trong khi đó áp lực phục hồi tăng trưởng về ngắn hạn vẫn rất lớn, mở rộng đầu tư công chắc chắn vẫn sẽ là giải pháp đầu tiên được lựa chọn.

Thiết lập được quy trình thống nhất thẩm định, lựa chọn, phê duyệt và quyết định đầu tư nhằm lựa chọn được dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

Thay đổi vai trò của chính quyền địa phương, đổi mới phân cấp Trung ương - địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, đối với tái cơ cấu DNNN

Cần áp đặt một số nguyên tắc, kỷ luật thị trường đối với DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng. Trong khi chưa áp đặt được đầy đủ các nguyên tắc và kỷ luật thị trường, thì chúng ta vẫn có thể buộc các DNNN phải: (i) Áp đặt đầy đủ ràng buộc về chi phí vốn trong đầu tư và kinh doanh của DNNN; Nhà nước phải lấy lợi nhuận với mức ít nhất bằng giá thị trường của vốn; (ii) Cho phép DNNN tự chủ hơn trong cơ cấu lại vốn và tài sản trong khuôn khổ mục tiêu và các chỉ tiêu đã định; (iii) Người đại diện chủ sở hữu, cán bộ quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm giải trình đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cần áp dụng một số nguyên tắc quản trị hiện đại đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Điều này trước hết đòi hỏi phải có quan niệm coi quản trị doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng là một khung khổ với các yếu tố cấu thành của nó.

Áp dụng đầy đủ hoặc ít nhất là cải thiện đáng kể nguyên tắc công khai, minh bạch hóa thông tin và thiết lập cơ chế giám sát hữu hiệu đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước, bằng cách công bố thông tin theo các chuẩn mực của công ty cổ phần niêm yết. Bên cạnh đó, việc cải thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, đánh giá bên trong, trước hết là giám sát, đánh giá của chủ sở hữu cũng là việc có thể làm được ngay.

Trong khi chưa thiết lập được cơ quan chuyên trách, độc lập thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, thì tại từng bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của DNNN trực thuộc. Các bộ chuyên ngành, đại diện trực tiếp thực hiện các quyền chủ sở hữu nhà nước, phải xác định được sứ mệnh, vai trò và chức năng cụ thể của từng tập đoàn, tổng công ty. Trên cơ sở đó xác định cụ thể các mục tiêu, kèm theo đó là các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu (làm thước đo để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu).

Đẩy nhanh hơn việc cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành cũng là giải pháp có thể thực hiện được ở mức độ nhất định. Cần thay đổi quan niệm về vai trò và chức năng của cổ phần hóa, thoái vốn, cụ thể như: cổ phần hóa không phải là để Nhà nước huy động vốn, mà là giải pháp thay đổi căn bản hệ thống động lực nội sinh và tạo áp lực thị trường đầy đủ đối với DNNN. Qua đó, tài sản quốc gia được quản lý và sử dụng có hiệu quả hơn, tạo thêm nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế.

Tương tự như vậy, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành không phải chỉ là để cắt lỗ, giảm lỗ, mà là giải pháp sử dụng cơ chế thị trường để phân bổ lại nguồn lực, làm sống lại một bộ phận nguồn lực hiện đang “chết” trong sự quản lý của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, đưa chúng quay trở lại sản xuất; và đưa bộ phận còn lại đang thua lỗ hoặc sử dụng kém hiệu quả thành các tài sản được sử dụng có hiệu quả hơn. Đó mới chính là “thoái vốn” ngoài ngành theo đúng tinh thần và nội dung của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ tư, đối với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng

Tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu và khắc phục tình trạng sở hữu chéo vẫn tiếp tục là các nhiệm vụ trọng tâm trong những năm tới. Việc có một đánh giá độc lập, khách quan hơn về tiến trình, kết quả và vấn đề của tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn rất cần thiết. Cần có trả lời khách quan và được xã hội tin cậy đối với các câu hỏi cơ bản, như: (i) Kết quả đạt được của tái cơ cấu 9 ngân hàng yếu kém đã đến mức nào? Số nợ xấu thực sự là bao nhiêu theo chuẩn quốc tế, chuẩn Việt Nam và theo yêu cầu tái cơ cấu, cơ cấu nợ xấu theo ngành, theo con nợ…? Thực trạng sở hữu chéo hiện nay như thế nào? Tác động có thể của nó đối với hiệu quả của chính sách tiền tệ, đến sự vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính…?

Ngoài ra, cũng cần xem xét thay đổi một số quan điểm trong thực hiện tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, như: Quan điểm về tái cơ cấu tự nguyện, kinh nghiệm quốc tế cho thấy giao cho những người gây ra vấn đề chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề họ gây ra thường không thành công; Quan điểm không để đổ vỡ các tổ chức tín dụng nên thay bằng quan điểm “không để người gửi mất tiền”.

Bên cạnh đó, các giải pháp xử lý nợ xấu cũng cần được thực hiện đầy đủ và toàn diện hơn theo cơ chế thị trường, đảm bảo cân bằng hơn giữa lợi ích của ngân hàng và các doanh nghiệp con nợ./.

Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: tái cơ cấu , nợ xấu , doanh nghiệp nhà nước , tổ chức tín dụng , thoái vốn , luật chơi , nền kinh tế , tổng công ty , tái cơ cấu kinh tế Các tin đã đưa Tập trung kiểm toán tài chính, bảo hiểm Kinh tế Việt Nam 2014: Cơ hội và giải pháp lớn! Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Cần một cuộc "ân xá" để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam "Điểm mặt" những mục tiêu cơ bản của Luật Đấu thầu 2013 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Luận bàn về những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam

Luận bàn về những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam

Thứ sáu 07/02/2014 15:06

(Tài chính) Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng trưởng chậm lại và lạm phát luôn bị "buộc tội" là rào cản. Tuy nhiên, điều đó liệu đã đúng hay còn ẩn chứa điều gì khác?

Hiệu quả ngày càng giảm

So sánh một số yếu tố kinh tế vĩ mô cho thấy, hệ số ICOR liên tục tăng từ 4,89 trong giai đoạn 2000 - 2006 lên 7,56 trong giai đoạn 2007 - 2012. Trong khi đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP khoảng 22,93% trong giai đoạn 2000 - 2006, thì đến giai đoạn 2007 - 2012 giảm xuống chỉ còn 6,44%.

Bên cạnh đó, nếu tính toán tỷ lệ hệ số giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất từ năm 2000 đến nay, thì tỷ lệ này ngày càng nhỏ. Nếu năm 2000, sản xuất ra 10 đồng sẽ tạo ra trên 4 đồng giá trị gia tăng, thì đến giai đoạn hiện nay chỉ tạo ra khoảng 3,5 đồng giá trị gia tăng. Vì vậy, một lượng tiền bỏ ra để sản xuất, nhưng lại tạo ra một lượng hàng hoá ít hơn sẽ làm phá vỡ quan hệ tiền - hàng và góp phần làm tăng chi phí của hàng hoá sản xuất trong nước.

Ngoài ra, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thông qua chỉ tiêu về chi tiêu (tiết kiệm) ngày càng giảm sút. Nếu tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chiếm khoảng 36% GDP trong giai đoạn 2000 - 2006, thì chỉ tiêu này giảm xuống dưới 30% GDP giai đoạn 2007 - 2012, trong khi đầu tư hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP. Điều này cho thấy, nợ nần ngày càng gia tăng mà sử dụng đồng tiền đi vay không hiệu quả là một rủi ro rất lớn về lâu dài.

Tính toán hệ số lan tỏa của các nhân tố của cầu cuối cùng (final demand) dựa trên bảng I-O của Việt Nam trong 2 giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010 cho thấy, độ lan tỏa của cầu cuối cùng lên sản xuất và thu nhập có sự khác biệt khá lớn, nếu trong giai đoạn 2000 - 2005 đầu tư lan tỏa đến sản xuất cao nhất trong các yếu tố của cầu cuối cùng, thì đến giai đoạn 2006-2010 lại kém nhất, sụt giảm khoảng 23% (giai đoạn trước khi tăng một đồng đầu tư sẽ kích thích phía cung 1,65 đồng, đến giai đoạn hiện nay khi tăng một đồng đầu tư chỉ lan tỏa đến phía cung là 1,27 đồng). Hơn nữa, giai đoạn trước tăng một đồng đầu tư có thể tạo ra 0,53 đồng giá trị gia tăng, nhưng đến giai đoạn sau chỉ làm tăng được 0,48 đồng giá trị gia tăng.

Về tiêu dùng cuối cùng trong giai đoạn sau, khi tăng một đồng tiêu dùng đòi hỏi nhiều giá trị sản xuất hơn, nhưng lại lan tỏa đến giá trị gia tăng ít hơn giai đoạn trước. Về xuất khẩu cũng như vậy, khi tăng một đồng xuất khẩu lan tỏa đến giá trị gia tăng sụt giảm so với giai đoạn trước 18%. Kết quả tính toán trên cho thấy, đầu tư đang ngày càng kém hiệu quả và nếu phía cung yếu kém, thì bất kỳ một sự gia tăng nào ở phía cầu chỉ làm tăng giá, thâm hụt thương mại và căng thẳng về tỷ giá mà thôi. Nếu tiếp tục với chính sách quản lý cầu như hiện nay, thì nền kinh tế lại rơi vào vòng xoáy lạm phát – suy trầm.

GDP hay GNI?

Hiện nay, các đánh giá tình hình kinh tế thường được gắn chặt với chỉ tiêu GDP. Nhưng, chỉ tiêu GDP thực ra không phản ánh được đầy đủ bức tranh của nền kinh tế, chẳng hạn như doanh nghiệp FDI chuyên về khai thác tài nguyên họ sẽ chuyển phần lợi nhuận về nước họ, nhưng vẫn được thể hiện trong GDP của Việt Nam.

Trong khi đó, chỉ tiêu Tổng thu nhập Quốc gia (GNI - Gross National Income), được xác định bằng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cộng với thu nhập từ sở hữu trừ đi chi trả sở hữu hầu như không có (hoặc rất ít) người sử dụng số liệu này trong các nghiên cứu hoặc các báo cáo. Chỉ tiêu GNI phản ánh đúng và thực chất hơn giá trị mà đất nước được hưởng.

Nếu xét về GNI theo giá thực tế năm 2012 so với năm 2000 chỉ tăng 6 lần và nếu lấy chỉ số giảm phát GDP (GDP deflactor) để loại trừ yếu tố giá của tổng thu nhập quốc gia, thì GNI chỉ tăng 2,15 lần. Xét 2 giai đoạn 2000 - 2006 và 2007 - 2012, thì GDP và GNI tăng bình quân tương ứng theo 2 giai đoạn là 7,5% - 7,4%; và 5,9% - 5,3%. Điều này cho thấy, độ doãng giữa tốc độ tăng trưởng GDP và GNI ngày càng lớn. Nếu năm 2000 tỷ lệ giữa GNI và GDP là 98,6%, thì đến năm 2012 tỷ lệ này xuống còn 95%, điều này cho thấy luồng tiền ra ngày càng lớn và tổng thu nhập quốc gia ngày càng nhỏ so với GDP.

Nếu xét theo giá hiện hành thì mức độ chi trả sở hữu thuần cho bên ngoài của năm 2012 so với năm 2000 tăng khoảng 26 lần (trong khi GDP tăng 6,7 lần). Tốc độ chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài tăng bình quân hàng năm khoảng 20% (trong khi tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm chỉ là 7%). Tình hình từ năm 2011 đến nay cho thấy, khi mấy động cơ “nội” (kinh tế nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, nông nghiệp) của nền kinh tế suy trầm, chỉ có một động cơ “ngoại” (khu vực FDI) chạy tốt, tuy điều này có làm cho chỉ tiêu “phù phiếm” GDP được hưởng lợi trong tăng trưởng, nhưng nguồn lực của quốc gia thì không hoàn toàn như vậy, thậm chí có thể đang ngày càng suy kiệt. Hình 1 biểu thị khoản chi trả sở hữu ra nước ngoài thuần (chi trả sở hữu – thu nhập từ sở hữu) đặc biệt tăng từ năm 2005 đến 2011.

Ngoài ra có thể nhận thấy, tuy không hoàn toàn do khu vực FDI, nhưng rõ ràng khu vực này góp phần quan trọng làm luồng tiền đi ra khỏi đất nước ngày một lớn, và Hình 2 đã cho thấy mức độ liên quan của FDI đến luồng tiền ra. Điều này cảnh báo rằng, chúng ta đang quá chú trọng đến chỉ tiêu GDP, mà quên mất hoặc không nhìn thấu cái nước ta được hưởng sau cùng là GNI.

Cùng với việc thâm hụt thương mại cao, thì đây là một lý do cơ bản khiến đồng tiền Việt Nam ngày càng mất giá. Điều này cho thấy, tốc độ tăng trưởng GDP rất ít ý nghĩa trong việc phản ảnh tình trạng thực sự của nền kinh tế.

Cũng do GNI ngày càng nhỏ so với GDP, mà tỷ lệ tiết kiệm (nguồn để đầu tư) từ nền kinh tế giảm xuống một cách nhanh chóng, đặc biệt từ năm 2006 đến nay, giảm từ 36% xuống còn 29%. Tiết kiệm của nội bộ nền kinh tế là nguồn cơ bản để đầu tư, mà tỷ lệ này giảm rất mạnh từ 87% trong tổng vốn đầu tư trong năm 2006 xuống chỉ còn 67% trong năm 2009 (tức là trong vòng 4 năm, tỷ lệ này giảm khoảng 20 điểm phần trăm). Nhưng điều đáng ngại hơn cả là tỷ lệ đầu tư trên GDP giảm không đáng kể. Điều này cho thấy không thể nói chung chung giảm tăng trưởng để ổn định vĩ mô mà cần xác định ổn định vĩ mô là ổn định cái gì?

Vấn đề của kinh tế Việt Nam là gì?

Từ những nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy một số vấn đề lớn của nền kinh tế như:

Thứ nhất, trong thời gian qua, hầu hết các chuyên gia và các nhà tư vấn chính sách của Việt Nam tập trung vào quản lý tổng cầu. Chính sách như vậy không sai, nhưng khi sử dụng chính sách quản lý tổng cầu kiểu Keynes cần ý thức rằng đó là chính sách mang tính ngắn hạn và nhất thời, không thể sử dụng lâu dài và triền miên. Chính vì sử dụng chính sách này suốt từ năm 2007 đến nay đã khiến nền kinh tế Việt Nam rơi vào vòng xoáy lạm phát - suy trầm, khiến cả phía cung và phía cầu của nền kinh tế đều yếu.

Ngay cả vấn đề lạm phát nếu được giải quyết thì cũng chỉ là giải quyết phần ngọn của vấn đề, mà nguyên nhân sâu xa lại là do hiệu quả sản xuất, đầu tư thấp và cơ cấu kinh tế lệch lạc. Trong trạng huống đó, dưới góc độ nghiên cứu, hàng loạt câu hỏi có thể được đặt ra: Liệu cơ cấu kinh tế với ưu tiên thứ tự công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp có phải là cơ cấu kinh tế hợp lý? Liệu chúng ta có nên dựa quá nhiều vào xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế? Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần quan tâm đến chính sách trọng cung với ý niệm là tôn trọng phía cung, hướng tới chính sách điều hành nền kinh tế mang tính dài hạn?...

Thứ hai, về đầu tư công, tính lan tỏa không rõ rệt, khó mang lại hiệu quả thực sự cho nền kinh tế. Chẳng hạn như đập phá trụ sở cũ xây trụ sở mới của các cơ quan nhà nước, lát lại vỉa hè lòng đường, mua sắm xe cộ, xây công viên… có thể tạo thêm một chút việc làm, giảm một chút tồn kho, tăng một chút GDP…, nhưng chỉ tại thời điểm đó, chứ không hề lan toả theo hướng tích cực đến các năm sau, mà ảnh hưởng tiêu cực dường như lại rõ ràng hơn, nhất là từ góc độ lãng phí các nguồn lực.

Thứ ba, tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn mà không chú trọng đến thay đổi quy trình công nghệ, khi sử dụng nguồn vốn không hiệu quả sẽ gây ra lạm phát. Bên cạnh đó, khi tăng trưởng dựa vào vốn mà các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn do thắt chặt tiền tệ và lãi suất của hệ thống ngân hàng dẫn đến suy giảm mạnh về tổng cung, giảm thu nhập của người dân và lại tiếp tục ảnh hưởng ngược đến cầu. Suy giảm tổng cầu làm trầm trọng hơn đến phía cung và nền kinh tế dường như rơi vào vòng xoáy của lạm phát - suy trầm hoặc vừa lạm phát vừa suy trầm.

Thứ tư, về khu vực sản xuất, kinh doanh, trong suốt năm 2011 đến nay, dù đã có một số chính sách nhằm kích thích sản xuất, nhưng chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng số lượng doanh nghiệp “chết” hoặc “chờ chết” nhiều chưa từng có. Những doanh nghiệp này hầu hết là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đây là những doanh nghiệp có giá trị gia tăng đóng góp 48% vào GDP.

Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI có hiệu quả đầu tư rất thấp. Điều gì sẽ xảy ra nếu các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phá sản hoặc mất khả năng thanh khoản và không thể mở rộng sản xuất? Sản xuất đình đốn sẽ làm giảm tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Nếu thu nhập từ sản xuất giảm, sức mua sẽ giảm, tiếp theo là một cuộc khủng hoảng cả về cung và cầu ngày càng nghiêm trọng và không thể chấm dứt.

Khuyến nghị chính sách

Từ những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam được nêu ở trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Một là, việc xây dựng một kế hoạch tổng thể dài hạn cho phát triển kinh tế là một yêu cầu tối quan trọng hiện nay. Kế hoạch phải mang tính chiến lược và có sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong quản lý và chú trọng hiệu quả phát triển, hạn chế điều hành thị trường mang tính mệnh lệnh, hành chính, duy ý chí và xin-cho, ban phát.

Hai là, xem xét lại cơ cấu kinh tế, chú trọng đến các ngành kinh tế mang lại hiệu ứng lan tỏa cao đến sản xuất trong nước, chẳng hạn sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến thủy, hải sản, đây là 2 nhóm ngành duy nhất trong giai đoạn này có hệ số lan tỏa đến sản xuất trong nước cao và hệ số lan tỏa về nhập khẩu tương đối thấp.

Ba là, cải cách thể chế để các doanh nghiệp tư nhân và khu vực nông nghiệp thực sự bình đẳng với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế FDI. Xem xét đánh giá và sửa đổi bổ sung Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, sớm ban hành Luật Đầu tư công.

Bốn là, để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế thì điều cốt lõi trong thời điểm này là chúng ta phải xác định xây dựng một nền kinh tế phát triển theo định hướng độc lập và tự chủ. Theo đó, nâng cao yếu tố nội lực của nền kinh tế là việc làm được ưu tiên hàng đầu, đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp và nhất thiết phải bảo vệ lợi ích quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Thế Anh, Đinh Tuân Minh, Nguyễn Thị Minh (2013). Kinh tế Việt Nam: Từ chính sách ổn định tổng cầu sang chính sách trọng cung để thúc đẩy tăng trưởng, Nxb Trí thức

2. Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Pham Le Hoa & Nguyen Viet Phong (2012). Vietnamese Economic Structural Change and Policy Implications, Global Journal of Human Social Science Sociology Economics & Political Science, Volume 12 Issue 9 Version 1.0

3. Bui Trinh, Kiyoshi Kobayashi, Trung-Dien Vu, Pham Le Hoa, Nguyen Viet Phong (2012). New Economic Structure for Vietnam Toward Sustainable Economic Growth in 2020, Global Journal of Human Social Science Sociology Economics & Political Science, Volume 12 Issue 10 Version 1.0

Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: GDP , nền kinh tế , FDI , lạm phát , GNP , gia tăng , kinh tế , kinh tế vĩ mô , hệ số ICOR , năng suất nhân tố tổng hợp , lượng hàng hoá , đầu tư Các tin đã đưa Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Màu sắc của tăng trưởng kinh tế 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tính kỹ để bảo đảm tính khả thi của mô hình ngân hàng tiết kiệm nhà ở Của để dành ngày một giảm Hành động vì niềm tin của người dân và doanh nghiệp Tập trung cải cách thủ tục hành chính ở các dự án đầu tư Kinh tế năm 2014: Vấn đề chỉ còn là hành động Luận bàn về những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam Năm 2014: "Giữ" lạm phát phải quyết liệt ngay từ đầu năm Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Lưu ý một số điểm mới tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về thuế Thu nhập cá nhân Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 Hướng dẫn cách tính thuế Thu nhập cá nhân mới nhất năm 2014 Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Không vội vã Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS