Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán

Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán

Thứ sáu 28/03/2014 13:41

(Tài chính) Đó là nhận xét của ông Oh Kyung Hee, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán (CTCK) KIS Việt Nam, trong bối cảnh lãi suất giảm, thời hạn phân loại nợ của các tổ chức tín dụng được lùi đến ngày 1/4/2015…

Phóng viên: Rót tiền vào chứng khoán, bất động sản lúc này có rủi ro như thế nào, theo ông?


Ông Oh Kyung Hee,
Tổng giám đốc CTCK KIS Ông Oh Kyung Hee: Kênh đầu tư chứng khoán hiện nay đang thu hút nhà đầu tư (NĐT), nhiều NĐT cũ đã rời thị trường giai đoạn 2011 - 2012 nay đã quay trở lại. So với kênh gửi tiết kiệm thì chứng khoán và bất động sản có độ rủi ro cao hơn, nhưng được bù đắp bởi tỷ suất lợi nhuận tốt hơn.

Khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK), các NĐT có nhiều lựa chọn, với tỷ suất sinh lời tương ứng mức độ chấp nhận rủi ro. Ngoài ra, các NĐT có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách tham khảo tư vấn của các chuyên viên môi giới, hoặc tham khảo báo cáo phân tích của CTCK trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

Lãi suất tiết kiệm giảm có khiến nguồn tiền chảy vào chứng khoán, bất động sản?

Điều này tùy thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro và kinh nghiệm đầu tư ở các kênh đầu tư khác. Đa phần NĐT chọn hình thức gửi tiết kiệm lâu dài đều ngại rủi ro hoặc ít có kinh nghiệm trong các kênh đầu tư khác như chứng khoán hay bất động sản. Do đó, trước việc lãi suất tiết kiệm giảm xuống thấp như hiện nay, họ thường xem xét lãi suất của ngân hàng nào cao nhất và chuyển sang gửi ở đó. Ngược lại, đối với các NĐT chấp nhận rủi ro và có kinh nghiệm ở các kênh đầu tư khác thì khó có thể chấp nhận mức lãi suất tiết kiệm thấp.

Thông tư số 05/2014/TT-NHNN vừa được NHNN ban hành có quy định hạn chế vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) gửi tiết kiệm. Theo ông, quy định này liệu có ảnh hưởng đến dòng vốn FII vào Việt Nam?

Thông tư số 05 quy định, vốn FII vào Việt Nam chỉ được thực hiện bằng VND và điểm đáng chú ý là số dư trên tài khoản vốn đầu tư gián tiếp của NĐT nước ngoài có thể được chuyển sang thanh toán bằng tiền đồng, nhưng không được chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng.

Tôi nhận thấy, phần lớn nguồn vốn FII vào Việt Nam thời gian qua chủ yếu đổ vào thị trường cổ phiếu, trái phiếu hoặc các loại hình đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao khác thông qua các quỹ đầu tư. Trong khi chờ giải ngân vào các dự án đầu tư, các quỹ đầu tư này thường để lượng tiền mặt nhàn rỗi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, nhưng kỳ hạn gửi chủ yếu là ngắn hạn, nhằm tối đa lợi nhuận, chứ không kỳ vọng lãi suất. Vì thế, tôi cho rằng, Thông tư 05 sẽ không ảnh hưởng nhiều đến dòng vốn FII vào Việt Nam. Bởi việc thu hút dòng vốn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố vĩ mô khác. Mặt khác, lãi suất tiết kiệm hiện nay đã giảm xuống mức khá thấp.

Có nghĩa là dòng vốn FII sẽ tiếp tục hướng vào Việt Nam?

Hiện TTCK Việt Nam vẫn thu hút NĐT nước ngoài. Trong 3 tháng đầu năm, các NĐT nước ngoài mua ròng gần 2.300 tỷ đồng, tương đương 108 triệu USD, so với tổng lượng mua ròng xấp xỉ 323 triệu USD năm 2013. Từ đầu năm đến nay, VN-Index tăng khoảng 20%, HNX Index tăng khoảng 30%, so với các thị trường khác trong khu vực thì đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng.

TTCK thời gian qua được hỗ trợ bởi các yếu tố như: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hạ lãi suất điều hành, hạ trần lãi suất huy động, khuyến khích các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng… Trong khi đó, quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các chỉ tiêu tài chính và tiền tệ được cải thiện đã hỗ trợ tâm lý đầu tư.

Ngoài ra, NHNN đẩy mạnh cung tiền ra thị trường một cách gián tiếp thông qua trái phiếu VAMC phát hành. Bên cạnh đó, Hiệp định TPP kỳ vọng được ký kết trong năm nay, tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư. Tỷ trọng xuất khẩu sang 5 nước thành viên của TPP dự kiến được miễn thuế gồm: Mỹ, Canada, Mexico, Chile, Peru chiếm 22% kim ngạch xuất khẩu, nên Việt Nam sẽ hưởng lợi từ các quốc gia này nhiều hơn so với từ các nước thành viên khác.

Xin cho biết dự báo của ông về TTCK Việt Nam trong ngắn hạn?

Tôi nhận thấy, xu hướng TTCK Việt Nam trong ngắn hạn vẫn khá tích cực. Một trong những thông tin hỗ trợ mạnh cho thị trường là NHNN đã ban hành Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Tâm điểm của Thông tư 09 là việc lùi thời hạn phân loại nợ đến ngày 1/4/2015, qua đó cho phép các ngân hàng có thêm thời gian để tiến hành xử lý nợ xấu, làm giảm áp lực gia tăng trích lập dự phòng trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng.

Vậy theo ông, lúc này, NĐT nên chọn danh mục cổ phiếu đầu tư như thế nào?

Để hạn chế rủi ro, nhưng duy trì được lợi nhuận phù hợp, các NĐT nên tăng tỷ trọng danh mục đầu tư vào các mã blue-chip có kết quả kinh doanh tốt, tiềm năng tăng trưởng cao; hạn chế giải ngân vào các mã thị giá thấp, đầu cơ, lướt sóng.

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: tổ chức tín dụng , lãi suất , chứng khoán , bất động sản , nhà đầu tư , chính sách tiền tệ , Thông tư số 05/2014/TT-NHNN , kết quả kinh doanh , tiềm năng tăng trưởng Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ sáu 28/03/2014 14:02

ThS. LÊ MINH LOAN

(Tài chính) “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng” – Thông điệp này liên tục được Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định trong suốt thời gian qua.

Hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức. Nguồn: internet

Linh hoạt đổi mới phương thức điều hành

Từ cuối năm 2011 đến nay, trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và diễn biến kinh tế vĩ mô từng năm, NHNN đã xác định nhiệm vụ trọng tâm và kiên trì theo mục tiêu xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, NHNN đặt trọng tâm vào các giải pháp cụ thể sau:

Một là, điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống;

Hai là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam; hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng, từng bước sắp xếp và đổi mới căn bản thị trường vàng;

Ba là, tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng; triển khai đồng bộ và quyết liệt Đề án tái cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 và thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu.

Đồng thời với đó là đổi mới phương thức điều hành theo hướng điều hành linh hoạt, chủ động dẫn dắt, định hướng thị trường; Kết hợp hài hòa giữa điều hành khối lượng với điều hành giá cả; Phối hợp uyển chuyển giữa các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo bơm và hút tiền linh hoạt với điều kiện thị trường nhưng vẫn ổn định được tỷ giá.

Với việc linh hoạt đổi mới phương thức điều hành, NHNN đã góp phần vào tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Lạm phát bền vững giảm từ 18,13% (năm 2011) xuống còn 6,81% (năm 2012) và duy trì ổn định mức 6-7% (năm 2013 và đầu năm 2014).

Thị trường tiền tệ sau khi biến động và đầy rủi ro đến nay, đã dần ổn định và được cải thiện. Mức tăng tổng phương tiện thanh toán đã thấp hơn nhiều so với trước. Lượng tiền cung ứng phù hợp đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn hoạt động và thanh khoản cho hệ thống TCTD. Nguy cơ đổ vỡ hệ thống theo đó được đẩy lùi, kỷ luật thị trường cũng dần được thiết lập.

Mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh, chỉ trong vòng hai năm, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm từ mức 20-25%/năm về bằng mức lãi suất trong giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay tính đến cuối năm 2013, phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên 7-9%; Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác là 9-11%/năm. Đặc biệt, trong nửa cuối năm 2013, NHNN đã cho phép các TCTD thỏa thuận đối với lãi suất huy động bằng VND kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Việc làm này cho thấy hệ thống NHNN đã rất nỗ lực chia sẻ, hỗ trợ, tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng sản xuất kinh doanh.

Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tăng cường trong quản lý thị trường ngoại hối, đã góp phần cải thiện và nâng cao niềm tin vào VND, hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Những rào cản phía trước

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực nhưng trước những dự báo nền kinh tế thế giới sẽ còn nhiều khó khăn và đầy biến động, hệ thống ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và những thách thức, cụ thể như: Kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu tích cực song còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa ổn định vững chắc; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào cầu nước ngoài; sức mua trong nước yếu; lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại.

Bên cạnh đó, dòng vốn vẫn “tắc nghẽn” trong hệ thống ngân hàng, nợ xấu lại ở mức cao; Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng diễn ra chậm; Tiến trình xử lý nợ xấu phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường. Đặc biệt là về tín dụng, tuy đã được cải thiện song mức tăng trưởng vẫn thấp cho dù NHNN đã rất quyết liệt trong việc linh hoạt, đổi mới phương thức điều hành để đẩy mạnh tín dụng trong mấy năm qua.

Nguyên nhân khiến tín dụng tăng thấp là do sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu yếu, vốn khả dụng của các TCTD luôn dư thừa, mặt bằng lãi suất giảm mạnh, hàng tồn kho tăng cao cho nên nhu cầu vay vốn là rất thấp. Điều này được thể hiện rõ ràng qua các Hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố thời gian qua. Số lượng doanh nghiệp tiếp cận được tới vốn vay là rất ít. Có rất nhiều doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng không vay được vốn, không đáp ứng đủ điều kiện vay vốn do tình hình tài chính yếu kém, báo cáo tài chính không rõ ràng, nợ đọng ngân sách lớn…

Hiện nay, cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng tuy đã có song được thực hiện không nhiều bởi sức cầu của thị trường yếu, tồn kho vẫn là mối lo ngại của doanh nghiệp. Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, có tới 73% phản hồi cho rằng hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại của doanh nghiệp. Điều đó cũng khiến các TCTD thận trọng hơn khi cho vay… Như vậy, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không còn là nhiệm vụ mà ngành Ngân hàng có thể tự thân giải quyết, mà cần tới sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cần có sự phối hợp của liên ngành, khi đó mới có thể giải quyết căn bản những yếu kém, nâng cao nội lực kinh tế, nắn dòng vốn đến từng lĩnh vực và thành phần kinh tế hiệu quả.

Giải pháp điều hành hiệu quả

Trước bối cảnh nền kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến khó lường, Chính phủ tiếp tục kiên trì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời quyết liệt thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường, giải quyết nợ xấu, hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh. Trên tinh thần đó, NHNN đã định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động cho năm 2014 và những năm tiếp theo là tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ. Chủ động điều hành linh hoạt tiền cung ứng và các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo thanh khoản và hỗ trợ nguồn vốn tín dụng phục vụ nền kinh tế. Đồng thời, điều hành lãi suất phù hợp và điều tiết lãi suất, góp phần ổn định thị trường, tháo gỡ khó khăn cho thị trường, hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý.

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp xử lý nợ xấu theo Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD ban hành kèm theo Quyết định 843/QĐ-TTg; Tạo khuôn khổ pháp lý cho VAMC, đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu; Điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định giá trị VND; Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối; Bình ổn thị trường vàng, chống “vàng hóa” nền kinh tế. Đặc biệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại các TCTD, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các TCTD hoạt động an toàn và lành mạnh.

Ngoài ra, tiếp tục tính toán và xây dựng các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ để đối phó với khả năng lạm phát tăng cao trở lại khi cầu phục hồi và giá cả các mặt hàng Nhà nước quản lý tiếp tục thực hiện lộ trình tăng giá; Nâng cao chất lượng dự báo thống kê tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và ứng phó kịp thời trước những biến động của nền kinh tế.

Năm 2014, trong khuôn khổ triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, NHNN kiên trì, tiếp tục điều hành hiệu quả chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để đạt mục tiêu đặt ra; Củng cố những kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2012-2013 về kiềm chế lạm phát (mục tiêu là 5-7%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; Duy trì sự ổn định các thị trường tiền tệ, ngoại hối, tỷ giá và vàng. Đẩy mạnh các giải pháp cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu theo đúng lộ trình; Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các TCTD.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 3 - 2014

Từ khóa: chính sách tiền tệ , kinh tế vĩ mô , điều hành , nợ xấu , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , lạm phát , sản xuất kinh doanh , lãi suất Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn

Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn

Thứ hai 24/02/2014 09:16

(Tài chính) Theo Bộ Tài chính, do chưa chủ động nghiên cứu và đưa ra được yêu cầu về mức độ, phương thức hỗ trợ rõ ràng đối với các khoản nợ cho vay lại của Chính phủ, nên khi dự án phát sinh nợ quá hạn thì không xác định được đâu là do lỗi chủ quan mà quy tất cả thành lỗi do cơ chế, chính sách.

Việt Nam cần rất nhiều vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nguồn: internet

Sử dụng chưa tiết kiệm

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, các khoản nợ cho vay lại của Chính phủ đã phát huy tác dụng, đã huy động được nguồn lực lớn từ nước ngoài chủ yếu theo điều kiện ưu đãi cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong khi thị trường vốn trong nước chưa cung ứng được lượng vốn lớn với thời hạn dài, năng lực tự vay, tự trả vốn nước ngoài của các doanh nghiệp còn hạn chế. Vốn vay về cho vay lại chiếm bình quân khoảng 30- 35% tổng vốn vay nước ngoài của Chính phủ được cam kết và giải ngân hàng năm.

Công tác giải ngân và thu nợ từ các dự án cho vay lại đã và đang được thực hiện tốt, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 3,45% tổng dư nợ cho vay lại. Các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng qua các ngân hàng thương mại được hoàn trả đầy đủ cho Bộ Tài chính, không phát sinh nợ quá hạn.

Theo Bộ Tài chính, nợ cho vay lại của Chính phủ chủ yếu tập trung ở các dự án thuộc lĩnh vực có giá sản phẩm đầu ra do Nhà nước quản lý như giá điện, nước, phí đường bộ, đường cao tốc cần được Nhà nước hỗ trợ và có khả năng hoàn vốn thấp. Tuy nhiên, do chưa chủ động nghiên cứu và đưa ra được yêu cầu về mức độ, phương thức hỗ trợ rõ ràng, vì vậy khi dự án phát sinh nợ quá hạn thì không xác định được đâu là do lỗi chủ quan mà quy tất cả thành lỗ do cơ chế, chính sách.

Việc cho vay lại chính quyền địa phương vẫn chưa thành các nguyên tắc nhất quán và chưa khuyến khích các địa phương sử dụng vốn vay tiết kiệm. Trong khi đó, nguồn vốn vay nước ngoài được hỗ trợ không đồng đều cho các địa phương.

Một bất cập nữa được Bộ Tài chính chỉ ra đó là hiện nay chưa có chế tài đầy đủ để xử lý các trường hợp không trả được nợ và trong phần lớn các trường hợp không trả được nợ, Bộ Tài chính chỉ có thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ để cho gia hạn nợ, xoá nợ... mà không thể thu hồi vốn thông qua cơ chế thu hồi tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu doanh nghiệp phá sản để thanh lý tài sản, thu hồi nợ.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong đó có nguồn vốn vay, đã làm nợ công có xu hướng tăng nhanh trong thời gian qua, có thể ảnh hưởng tới sự bền vững nợ công (năm 2006 ở mức 405 nghìn tỷ đồng, bằng 41,5% GDP; năm 2010 là 1.392 nghìn tỷ đồng, bằng 54,9% GDP và năm 2012 là 1.643 nghìn tỷ đồng, bằng 55,7% GDP).

Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012. Dự kiến đến cuối năm 2013, dư nợ Chính phủ mức 1.573.810 tỷ đồng, bằng 42,6% GDP, dư nợ công mức 2.074.838 tỷ đồng, bằng 56,2% GDP. Dự kiến đến cuối năm 2014 dư nợ chính phủ mức 1.952.280 tỷ đồng, bằng 46,2% GDP, dư nợ công mức 2.528.380 tỷ đồng, bằng 59,8% GDP.

Mở rộng cơ chế để nâng cao trách nhiệm

Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%).

Đối với vay về cho vay lại, tính đến thời điểm cuối năm 2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012).

Tổng nợ quá hạn cho vay lại là 373,94 triệu USD, chiếm 3,45% tổng dư nợ cho vay lại. Các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng qua các ngân hàng thương mại được hoàn trả đầy đủ cho Bộ Tài chính, không phát sinh nợ quá hạn.

Về nghĩa vụ nợ của Chính phủ (không kể đảo nợ) so với thu ngân ngân sách nhà nước hàng năm luôn đảm bảo nằm trong giới hạn an toàn, bình quân khoảng 14-15% so với tổng thu ngân sách Nhà nước.

Theo Bộ Tài chính, trong thời gian tới sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay về cho vay lại với việc tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp - nhà đầu tư, giữa Chính phủ và chính quyền địa phương đối với các khoản vay nước ngoài của chính phủ về cho vay lại. Mở rộng cơ chế cho vay lại cho chính quyền địa phương để nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của địa phương; bảo đảm đối xử công bằng giữa các địa phương. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý và xử lý rủi ro về nợ công với việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và chủ động triển khai phương án xử lý rủi ro đối với một số khoản nợ của Chính phủ.

Theo baohaiquan.vn

Từ khóa: nợ quá hạn , Bộ Tài chính , thị trường vốn , giải ngân , nợ công , ngân hàng thương mại , rủi ro , ngân sách Nhà nước , nghĩa vụ nợ Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Thứ hai 24/02/2014 13:00

Thái Hằng

(Tài chính)“Sự hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô (TCVM)” chính là mục tiêu mà các tổ chức TCVM luôn luôn trăn trở trong quá trình hoạt động của mình.

Các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo. Nguồn: internet.

Tìm hướng tiếp cận mới

Theo nhận định của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các khoản tín dụng của TCVM nhỏ ở Việt Nam tương đương 4% GDP. Tuy nhiên, các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo, 60% còn lại với khoảng hơn 12 triệu người còn lại với khoảng hơn 12 triệu người nghèo chưa tiếp cận được những dịch vụ này.

Trước đây, nhiều tổ chức TCVM quan tâm quá nhiều đến hiệu quả tài chính của hoạt động nên ảnh hưởng đến lợi ích của các thành viên tham gia. Minh chứng thường thấy là lãi suất quá cao vượt quá khả năng chi trả của người vay hoặc là cho vay vượt quá khả năng hoàn trả đã dẫn đến việc người nghèo bị rơi vào bẫy nợ nần khó có khả năng trả.

Thậm chí, hiện còn có rất nhiều dự án phát triển khác cũng sử dụng TCVM như một công cụ đòn bẩy kinh tế cho những nhóm yếu thế trong xã hội nhưng lại thiên nhiều về xã hội như cho vay không lãi suất hoặc lãi xuất quá thấp (bao cấp) hay vay mà không tính đến yếu tố quay vòng, không chú trọng đến tính bền vững về mặt tài chính của hoạt động TCVM.

Chưa kể hiện nay, số lượng TCVM không đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng nhỏ, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã được thành lập hơn 15 năm chỉ chiếm 1/10 số xã, phường trong nước. Số thành viên cũng chỉ chiếm 1/10 hộ gia đình tham gia. Từ đó có thể thấy rằng, sự thiếu tin cậy của người dân, chính quyền, các địa phương đối với phong trào hợp tác xã.

Mô hình tài chính vi mô đang ngày càng hoàn thiện song song với quá trình bùng nổ của lĩnh vực tài chính hết sức đặc biệt này. Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để phát triển nhiều hơn nữa ngành tài chính vi mô. Hoàn thiện nguồn cung tài chính, khơi dậy nguồn cầu tài chính và hướng đến việc sử dụng bền vững, hiệu quả các khoản tiền vi mô là những điều tài chính vi mô Việt Nam trong tương lai cần hướng tới.
Nguồn: INFI.
Đa số ý kiến đều cho rằng thị trường TCVM truyền thống tại Việt Nam là chỉ để phục vụ cho số người nghèo và những người thu nhập thấp và hộ thu nhập thấp hiện nay. Ngân hàng chính sách xã hội, một số Quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức TCVM bán chính thức vẫn là những nhà cung cấp tín dụng chủ yếu.

Lĩnh vực TCVM đang trong giai đoạn phát triển và từng ngày từng giờ những tổ chức này vẫn đang tìm tòi những hướng đi tốt để tiếp cận sâu rộng hơn tới cộng đồng những người yếu thế. Tuy nhiên, để làm được điều này theo ông Sebastian Dinjens, Giám đốc mạng lưới trao đổi về chuyên môn TCVM ở khu vực châu Á (INFI) cho rằng, những tổ chức TCVM cần phải chuyên nghiệp hóa hơn trong quản lý hiệu quả xã hội và thiết kế những sản phẩm phù hợp đặc biệt với nhu cầu của những người nghèo và yếu thế.

Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Tiêu chuẩn quản lý hiệu quả xã hội (SPM) đã ra đời và việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này sẽ là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. “Bộ tiêu chuẩn phản ánh một mối quan ngại rằng các tổ chức TCVM đã không còn tập trung vào khách hàng. Hầu hết các tổ chức này đều khẳng định tăng cường lợi ích cho các khách hàng, nhưng trong hai thập kỷ qua nhiều tổ chức đã tập trung vào bền vững tài chính hơn là nhu cầu của khách hàng. Nhiều tổ chức trong số đó tập trung vào kết quả tài chính vì họ chỉ quản lý hiệu quả tài chính. Còn các tổ chức có mục tiêu xã hội cũng phải quản lý hiệu quả xã hội của mình. Bằng việc định nghĩa và đẩy mạnh quản lý hiệu quả xã hội, bộ tiêu chuẩn sẽ góp phần hướng sự tập trung của các tổ chức trở lại vào khách hàng”, Ông Sebastian Dinjens, Giám đốc INFI chia sẻ.

Để người nghèo không phải đối mặt với rủi ro

Trong bối cảnh hiện nay, với việc các loại hình làm ăn kinh doanh lớn nhỏ khác nhau đều chấp nhận và khuyến khích phát triển, việc hỗ trợ các nhóm đối tượng chịu thiệt thòi tiếp cận với nền kinh tế thị trường là điều phù hợp, thay cho cách tiếp cận mang tính nhân đạo trước đây. Nhiều chương trình và dự án sử dụng các công cụ tài chính để giúp những người yếu thế trong quá trình phát triển kinh tế có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống. 

Ông Sebastian Dinjens cho biết, rất nhiều tổ chức đang làm việc với những người dân ít được đào tạo, thậm chí là mù chữ. Họ thường sống ở những vùng nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, cho nên việc gia tăng thương mại với các nước đang mở ra nhiều cơ hội nhưng những người dân không có vốn để sản xuất ở dạng quy mô lớn đáp ứng cho thị trường này. Trong khi đó những khoản họ có thể tiết kiệm được lại thường không đủ cho những nhu cầu đầu tư. Đây chính là lúc mà TCVM có thể tác động bằng cách đưa ra những khoản vay để người dân đầu tư và phát triển làm ăn mà không phải đối mặt với nhiều rủi ro. Tuy nhiên điều này cũng yêu cầu các tổ chức TCVM phải có kiến thức về nhu cầu của những khách hàng và sẵn sàng đầu tư vào những mối làm ăn nhỏ của người dân nghèo Việt Nam.

Trên tinh thần đó, các hoạt động can thiệp về TCVM của INFI hiện nay, chủ yếu nhằm mục đích cải thiện sinh kế cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và cộng đồng. Trong một số trường hợp, các hoạt động TCVM cũng hướng đến việc tạo ra tính bền vững về mặt tài chính cho các chương trình, dự án.

“Trong các chương trình và dự án của Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam và INFI thực hiện, đã có 115 quỹ tín dụng vi mô và tiết kiệm được thành lập, cung cấp vốn vay cho hơn 7.000 hộ gia đình với tổng số vốn lên tới 14 tỷ đồng tính đến năm 2013. Ban đầu, nhiều người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn không dám vay vốn hoặc không quen với việc sử dụng vốn vay. Đến nay họ đều có khả năng sử dụng đồng tiền vay mượn và tiền tiết kiệm để phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đầu tư kinh doanh nhỏ hay mở rộng quy mô sản xuất. Trong tương lai, chúng tôi không chỉ hướng đến việc tăng cường phát triển doanh nghiệp vi mô cá thể và nhóm, mà còn hỗ trợ các nhóm sản xuất để giúp các nhóm này phát triển thành các doanh nghiệp nhỏ có khả năng tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện sinh kế cho những đối tượng chịu thiệt thòi”, ông Sebastian Dinjens thông tin.

Từ khóa: tài chính vi mô , xã hội , kinh tế , hiệu quả , dự án , người nghèo , người thu nhập thấp , nông thôn , lãi suất , bẫy nợ nần , đòn bẩy kinh tế , tín dụng , quỹ , GDP Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ ba 25/02/2014 09:17

TS. BÙI TIẾN DŨNG - Bộ Khoa học và Công nghệ

(Tài chính) Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Việt Nam đang dành 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN. Nguồn: internet

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua...

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 - 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Xét về bản chất thì Dự án thử nghiệm là khâu cuối của chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ với nội dung chính là triển khai thực nghiệm, thử nghiệm ở quy mô nhỏ để hoàn thiện kết quả nghiên cứu (sản phẩm mới, công nghệ mới) được tạo ra trong phòng thí nghiệm trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm, các sản phẩm được tạo ra là các vật mẫu (prototype), quy trình sản xuất vật mẫu và tổ chức sản xuất thử loạt nhỏ - loạt “o” (zero) nhằm ổn định chất lượng của sản phẩm cũng như độ tin cậy của công nghệ đã được nghiên cứu và tạo ra trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, phần lớn sản phẩm của các Dự án sản xuất thử nghiệm chưa đi đến thương mại hóa và chưa thể mang lại hiệu quả sinh lợi bằng tiền ngay sau khi kết thúc. Trong thực tế, chỉ có doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định trong việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của sản phẩm do doanh nghiệp thực hiện.

- Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học gồm: Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học; Loại hình triển khai kỹ thuật; Loại hình nghiên cứu phúc lợi xã hội, cơ sở kỹ thuật và khoa học nông nghiệp.

- Phương thức chi ngân sách: Việc phân loại quản lý nguồn lực tài chính KH&CN, cơ chế chi ngân sách được thực hiện căn cứ vào loại hình hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học: Thứ nhất, chi phí cho các cơ quan nghiên cứu khoa học và kinh phí sự nghiệp KH&CN. Thứ hai, đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản, kinh phí nghiên cứu khoa học từng bước thực hiện theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn từ Quỹ phát triển KH&CN. Đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình như sự nghiệp công ích, Nhà nước bao cấp một phần kinh phí nhất định…

Về nguyên tắc, Nhà nước không giảm bớt chi ngân sách cho kinh phí sự nghiệp KH&CN chung và tiếp tục tăng thêm hàng năm. Kinh phí sự nghiệp được giảm xuống vẫn sẽ dùng cho nghiên cứu khoa học, với phương thức vận hành ổn định và chi theo nhiệm vụ.

Đối với các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập, Dự án thử nghiệm là một khâu trong chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ nên hoạt động sản xuất thử nghiệm cũng mang đầy đủ các đặc tính của hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó có tính rủi ro. Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công ở quy mô nhỏ thông qua Dự án sản xuất thử nghiệm, cũng vẫn chịu những rủi ro (cả về công nghệ cũng như về thị trường) trong quá trình áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống, hoặc vẫn không thể áp dụng ngay vào quy mô lớn theo yêu cầu của sản xuất nếu không tiến hành đồng bộ các nghiên cứu khả thi về công nghệ, tài chính, thị trường, kinh tế, môi trường, xã hội...

Theo đánh giá của cơ quan quản lý KH&CN của các bộ ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Y tế…) thì ngoài yếu tố rủi ro, thu hồi kinh phí hỗ trợ thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm gây thêm áp lực đối với các nhà khoa học và các tổ chức KH&CN công lập, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Áp lực thu hồi kinh phí cùng với yếu tố rủi ro trong nghiên cứu được xem là nguyên nhân chính của số lượng hạn chế các dự án sản xuất thử nghiệm, đồng nghĩa với tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống còn thấp trong thời gian qua.

Bộ KH&CN đã trình và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý không thu hồi kinh phí đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ (Quyết định số 62/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó, liên Bộ Tài chính - KH&CN đã ban hành Thông tư 22/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 21/2/2011 hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ kinh phí.

Thứ hai, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN” có nội dung “Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN”. Thực hiện Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015”, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”. Ngày 17/02/2012, Đề án này đã được Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình 315/TTr-BKHCN. Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là nhóm giải pháp để thực hiện đổi mới được nêu trong Đề án với những định hướng đổi mới sau:

Về mức đầu tư: Duy trì mức chi tối thiểu 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN, phấn đấu đạt 2,2% từ năm 2015; Huy động các nguồn vốn ngoài NSNN (sửa Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được trích tối thiểu 10% lợi nhuận chịu thuế để thành lập Quỹ KH&CN của doanh nghiệp hoặc đưa vào Quỹ Phát triển KH&CN của địa phương).

Xây dựng cơ chế để khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải phân tán nguồn NSNN đầu tư cho KH&CN, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả đầu tư: Xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí và quy trình phân bổ kinh phí ngân sách đầu tư cho KH&CN (đặc biệt lưu ý vai trò, quyền hạn của 3 Bộ quản lý tổng hợp liên quan trong xây dựng dự toán, quyết định phương án phân bổ); Xây dựng cơ chế có thể điều tiết ngân sách KH&CN đã phân bổ phù hợp với nhu cầu, năng lực và tình hình thực tế sử dụng ngân sách; Đổi mới quy trình, thủ tục lập kế hoạch ngân sách KH&CN hàng năm (thời điểm phê duyệt nhiệm vụ KH&CN linh hoạt); Xây dựng lộ trình tăng dần tỷ trọng vốn ngân sách sự nghiệp khoa học thông qua các quỹ như Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia.

Đổi mới quy định về dự toán và sử dụng ngân sách KH&CN theo hướng: Xây dựng định mức và quy định bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên của các tổ chức KH&CN công lập trong dự toán các nhiệm vụ KH&CN và nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng; Hoàn thiện cơ chế khoán kinh phí (khoán theo sản phẩm cuối cùng); Đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán; Điều chỉnh và bổ sung các nội dung chi cũng như định mức kinh phí theo từng nội dung chi của nhiệm vụ KH&CN (mua sắm trang thiết bị, mua quyền sở hữu trí tuệ, mua thiết kế, bí quyết công nghệ, phần mềm, thuê chuyên gia, truyền thông, kinh phí dự phòng...); Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi bổ sung Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn và một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác tài chính KH&CN.

Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN

Thứ nhất, nâng cấp cơ sở pháp lý về cơ chế tài chính cho KH&CN. Tiếp tục hoàn thiện Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, đổi mới triệt để các quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Triệt để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm bằng giao theo nhiệm vụ. Loại bỏ tư tưởng duy trì cơ chế hành chính kiểu “xin - cho” trong các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ hai, cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ nghiên cứu và phát triển (R&D). Ở Việt Nam, đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập thường vay vốn để nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các tổ chức tài chính là không dễ dàng vì các khoản vay này luôn bị các tổ chức tài chính coi là có tính rủi ro cao, do các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập dễ tổn thương trước các biến động từ thị trường và nền kinh tế. Vì vậy, để hỗ trợ đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ quốc gia cần đưa vào vận hành cơ chế cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D. Cơ chế này cần có một quy trình xét duyệt bảo lãnh đòi hỏi linh hoạt, nhưng không được thiếu tính chính xác, chặt chẽ và được kiểm toán đầy đủ. Nếu không thì việc duyệt bảo lãnh biến thành cơ chế xin cho tùy hứng, tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh.

Ngược lại, nếu cơ quan duyệt bảo lãnh vì sợ trách nhiệm mà làm việc quá chặt tay, thì các dự án đầu tư R&D – dù có triển vọng tốt nhưng trong bản chất tự thân đã có tính mạo hiểm, sẽ không được bảo lãnh, và không huy động được nguồn vốn cần thiết. Hiện nay, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia là phù hợp nhất. Khoản bảo lãnh này có nhiều hình thức, nhưng mục tiêu chung là đảm bảo các tổ chức cho vay thu hồi khoản nợ trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán. Nhờ vậy, khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay đối với các đơn vị sự nghiệp có dự án triển vọng tốt song không có đủ tài sản thế chấp, hoặc không có hồ sơ tín dụng đầy đặn phù hợp để chứng minh uy tín trả nợ.

Thứ ba, hỗ trợ kinh phí rút ngắn khoảng cách tụt hậu về KH&CN. Trong xu thế phát triển KH&CN hiện nay, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí để các tổ chức KH&CN có thể tiến hành khắc phục khoảng cách tụt hậu về KH&CN qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về sử dụng kết quả KH&CN; Giai đoạn 2: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ; Giai đoạn 3: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu cơ bản.

Để rút ngắn khoảng cách về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, trước hết phải phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng của quốc gia, tăng cường tham gia mạng lưới nghiên cứu ứng dụng quốc tế. Cần hình thành một đội ngũ nhân lực KH&CN đủ mạnh và tương ứng là hệ thống tổ chức R&D, hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu, nguồn vốn đầu tư nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ mới, chiến lược phát triển quốc gia về R&D. Rõ ràng, rút ngắn khoảng cách ở đây khó hơn và khác hẳn việc rút ngắn tụt hậu về ứng dụng kết quả KH&CN. Để khắc phục tình trạng kết quả nghiên cứu bị giữ kín như là bí quyết cạnh tranh, viện nghiên cứu ở nước ta phải có những nghiên cứu khoa học đủ sức “giải mã” phần công nghệ ẩn giấu trong hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường.

Như vậy, có ba điểm mấu chốt trong cơ chế tài chính khi tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập từ nguồn ngân sách cần quan tâm đó là: Có sự độc lập tự chủ cao hơn về tài chính; Các quy trình thủ tục thể hiện một sự linh hoạt và lắng nghe cao hơn đối với các tác giả đề cương nghiên cứu, từ việc cân nhắc lựa chọn thành viên hội đồng thẩm định tới việc đàm phán tài chính cho nhiệm vụ; Nhà nước rất quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, không chỉ trong phạm vi chuyên ngành mà liên ngành và không chỉ trong cộng đồng khoa học mà cả cộng đồng xã hội, kể cả với các dự án nghiên cứu cơ bản.

Đối với Việt Nam, khi xem xét cơ chế tài chính cho các nhiệm vụ KH&CN, cần chú ý đến kết quả đầu ra và quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, kể cả với các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản. Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN cần phải theo phương châm “thà ít mà tốt”. Chỉ có như vậy thì chính sách đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KH&CN mới thực sự hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Các văn bản pháp quy và hướng dẫn hiện hành về tài chính cho KH&CN và một số hướng dẫn khác có liên quan;

2. Trang website http://www.nafosted.gov.vn.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2014

Từ khóa: khoa học công nghệ , cơ chế , nghiên cứu khoa học , nghiên cứu phát triển , tài chính , bảo lãnh , Bộ Khoa Học Và Công Nghệ , thông tư Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS