Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Thứ sáu 28/03/2014 15:39

(Tài chính) Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nguồn: internet

Từ quý II/2013: Số doanh nghiệp thành lập mới đã tăng trở lại

Điều đáng lưu ý là bắt đầu từ quý II/2013 đến nay, các quý đều có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: quý II/2013 tăng 20,1%, quý III/2013 tăng 18,1%, quý IV/2013 tăng 8%, so với cùng kỳ năm trước.

Tại các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia tăng về số doanh nghiệp thành lập so với cùng kỳ năm 2013: vùng Đồng bằng sông Hồng có 4.942 doanh nghiệp thành lập tăng 10,5%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 746 doanh nghiệp thành lập tăng 35,9%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 2.443 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 974 doanh nghiệp thành lập tăng 133%; vùng Đông Nam Bộ có 7.638 doanh nghiệp thành lập tăng 18,2%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 1.613 doanh nghiệp thành lập tăng 2,5%.

Ngược với xu hướng gia tăng chung của cả nước, một số địa phương vẫn có sự suy giảm về số doanh nghiệp thành lập mới, như: Hải Phòng giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 7,1%; Khánh Hòa giảm 16,6%; Bình Định giảm 36,4%; Sóc Trăng giảm 41,8%; Hậu Giang giảm 42,7%; Cao Bằng giảm 53,8%.

Về lĩnh vực, ngành nghề đăng ký hoạt động, trong quý I/2014 hầu hết đều có sự gia tăng của số doanh nghiệp thành lập mới, đặc biệt, một số ngành có tỷ lệ tăng cao như: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,2%; Kinh doanh bất động sản tăng 22,6%; Thông tin và truyền thông tăng 42,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,4%; Giáo dục và Đào tạo tăng 51,2%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 52,1%; Sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 57,3%.

Số doanh nghiệp khó khăn rơi vào tình trạng ngừng hoạt động trước và trong quý I/2013 quay trở lại hoạt động là 4.622 doanh nghiệp, trong đó tập trung chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng Sông Hồng 1.458 doanh nghiệp (Hà Nội 1.052 doanh nghiệp); vùng Đông Nam Bộ 1.913 doanh nghiệp (Hồ Chí Minh 1.525 doanh nghiệp).

Lĩnh vực có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung nhiều nhất là: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với 1.654 doanh nghiệp.

Quý I/2014, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký là 16.745 doanh nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 3.846 doanh nghiệp, tăng 7,8%; Số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 10.318 doanh nghiệp, tăng 9,3%; Số doanh nghiệp giải thể là 2.581 doanh nghiệp, tăng 13,6%

Ngược với xu hướng tốt lên của doanh nghiệp thành lập mới, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng, như: vùng Đông Nam Bộ tăng 18,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 26,1%.

 Tuy nhiên, một số khu vực được coi là đầu tàu kinh tế đã có xu hướng tốt lên so với cùng kỳ năm 2013 là Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động giảm 3%.

Xem xét các lĩnh vực, ngành nghề doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong quý I/2014, một số ngành có dấu hiệu tốt hơn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm, như: Sản xuất, phân phối điện, nước, gas giảm 5,4%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 14,7%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 33%.

Tuy nhiên, một số ngành, lĩnh vực vẫn có số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng cao như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 52,5%; Giáo dục và đào tạo tăng 27,3%.

Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp dần phát huy tác dụng

Đánh giá về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh là Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, các giải pháp bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy nền kinh tế dần dần vượt qua thời kỳ khó khăn.

Với những chính sách giảm, giãn, hoàn, miễn thuế, phí, lệ phí được ban hành trong năm 2013, thì một số ngành trực tiếp được hưởng lợi từ các chính sách này và có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều trong Quý I năm 2014 như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (1.654 doanh nghiệp); Xây dựng (878 doanh nghiệp); Công nghiệp chế biến, chế tạo (579 doanh nghiệp).

Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, thúc đẩy mặt bằng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên thị trường ngân hàng hạ dần, tác động tích cực đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ sử dụng vốn vay cao là những ngành hưởng lợi nhiều nhất, thể hiện qua số liệu doanh nghiệp tham gia vào các ngành này như: Công nghiệp chế biến và chế tạo (thành lập mới tăng 4 quý liên tiếp), Xây dựng đã tăng 6% trong quý I/2014 so với cùng kỳ năm 2013, trong khi năm 2013 giảm 3,7% so với năm 2012.

Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm so với kế hoạch đã đề ra. Sự chậm trễ trong việc đi vào hoạt động của Công ty Quản lý và khai thác tài sản Việt Nam đã dẫn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị này trong năm 2013 là không rõ nét và vẫn chưa xử lý được vấn đề nợ xấu cũng như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như kỳ vọng đã đặt ra.

Ngành tài chính và ngân hàng vẫn thế hiện tình trạng khó khăn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng tới 58,6% trong năm 2013 so với năm 2012.

Trong Quý I năm 2014, tình hình của khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã có dấu hiệu cải thiện khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 18,9%, ngừng hoạt động, giải thể giảm 14,7%.

Một trong các giải pháp giải quyết hàng tồn kho bất động sản là gói tín dụng 30.000 tỷ hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản và người mua nhà tiếp cận nguồn tín dụng có lải suất thấp, ổn định.

Tuy nhiên, do tiến độ giải ngân của gói tín dụng này quá chậm nên chưa có nhiều tác động hỗ trợ đối với doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dừng hoạt động trong Quý I/ 2014 vẫn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013 (cả năm 2013 tăng 21,9% so với năm 2012)….

Cơ hội đan xen thách thức?

Cuối năm 2013, hầu hết các dự báo về tình hình kinh tế thế giới đều đánh giá tốc độ tăng trưởng năm 2014 sẽ khả quan hơn ở các lĩnh vực và các nền kinh tế. Tuy nhiên, tình hình chính trị bất ổn tại Ukraina và các điểm nóng khác trên thế giới đe dọa đến đà tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đầu năm 2014, đánh dấu lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ và các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Liên bang Nga do căng thăng chính trị tại Ukraina leo thang.

Mặc dù quy mô các biện pháp trừng phạt còn nhỏ, nhưng nếu các bên liên quan không tìm được tiếng nói chung có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa kinh tế mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi chung của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị ứng phó với những khó khăn nảy sinh khi các thị trường xuất khẩu của nước ta như EU, Mỹ, Nga gặp khó khăn.

Tình hình trong nước còn khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ ràng hơn do tình hình kinh tế trong nước đang dần ổn định, cũng như các chính sách kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phát huy tác dụng. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, năm 2014 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,67%-6,3%, chỉ số CPI tăng khoảng 7%-7,5%.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp có những cơ hội sau:

- Sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2014 là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất.

- Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài dự báo sẽ tăng đáng kể trong năm 2014, tạo động lực thúc đẩy đà hồi phục của doanh nghiệp, mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

- Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng do các Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định TPP được Việt Nam ký kết với các nước trên thế giới.

- Lãi suất ngân hàng ở mức hợp lý, giảm gánh nặng chi phí lãi vay của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cũng không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đó là:

- Với việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh chất lượng hàng hóa, quy mô sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước đối tác.

- Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được giải quyết mạnh mẽ, sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt, tiêu dùng nội địa còn yếu là những thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014.

Doanh nghiệp vẫn mong chờ những hỗ trợ

Trong năm 2014, Chính phủ cần tiếp tục các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt sử dụng hàm lượng chất xám, trình độ quản lý cao và giảm dần các ngành tiêu tốn nhiều vốn và lao động nhưng hiệu quả kinh tế thấp.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, trong thời gian tới, Chính phủ vẫn tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công khai, minh bách hóa chính sách, thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh, thông tin doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu.

 Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, cung ứng chuỗi; thu hút, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám; tạo điều kiện, môi trường, chính sách thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.

Đồng thời, đẩy nhanh quá trình giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; khắc phục những yếu kém, tồn tại của thị trường bất động sản như vấn đề hàng tồn kho bất động sản, tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dẫn nhằm củng cố lại niềm tin của người dân; hoàn thiện thị trường chứng khoán theo định hướng trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp.

Triệt để thực hiện lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cổ phần hóa tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

 Ban hành các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng của doanh nghiệp như tăng cường quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa, tình trạng cạnh tranh…

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về những cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong giai đoạn tới. Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: giải thể , quý I , thành lập , doanh nghiệp Việt Nam , nợ xấu , Đồng bằng sông Hồng , Đông Nam Bộ , hàng tồn kho Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Thứ hai 24/02/2014 13:00

Thái Hằng

(Tài chính)“Sự hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô (TCVM)” chính là mục tiêu mà các tổ chức TCVM luôn luôn trăn trở trong quá trình hoạt động của mình.

Các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo. Nguồn: internet.

Tìm hướng tiếp cận mới

Theo nhận định của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các khoản tín dụng của TCVM nhỏ ở Việt Nam tương đương 4% GDP. Tuy nhiên, các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo, 60% còn lại với khoảng hơn 12 triệu người còn lại với khoảng hơn 12 triệu người nghèo chưa tiếp cận được những dịch vụ này.

Trước đây, nhiều tổ chức TCVM quan tâm quá nhiều đến hiệu quả tài chính của hoạt động nên ảnh hưởng đến lợi ích của các thành viên tham gia. Minh chứng thường thấy là lãi suất quá cao vượt quá khả năng chi trả của người vay hoặc là cho vay vượt quá khả năng hoàn trả đã dẫn đến việc người nghèo bị rơi vào bẫy nợ nần khó có khả năng trả.

Thậm chí, hiện còn có rất nhiều dự án phát triển khác cũng sử dụng TCVM như một công cụ đòn bẩy kinh tế cho những nhóm yếu thế trong xã hội nhưng lại thiên nhiều về xã hội như cho vay không lãi suất hoặc lãi xuất quá thấp (bao cấp) hay vay mà không tính đến yếu tố quay vòng, không chú trọng đến tính bền vững về mặt tài chính của hoạt động TCVM.

Chưa kể hiện nay, số lượng TCVM không đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng nhỏ, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã được thành lập hơn 15 năm chỉ chiếm 1/10 số xã, phường trong nước. Số thành viên cũng chỉ chiếm 1/10 hộ gia đình tham gia. Từ đó có thể thấy rằng, sự thiếu tin cậy của người dân, chính quyền, các địa phương đối với phong trào hợp tác xã.

Mô hình tài chính vi mô đang ngày càng hoàn thiện song song với quá trình bùng nổ của lĩnh vực tài chính hết sức đặc biệt này. Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để phát triển nhiều hơn nữa ngành tài chính vi mô. Hoàn thiện nguồn cung tài chính, khơi dậy nguồn cầu tài chính và hướng đến việc sử dụng bền vững, hiệu quả các khoản tiền vi mô là những điều tài chính vi mô Việt Nam trong tương lai cần hướng tới.
Nguồn: INFI.
Đa số ý kiến đều cho rằng thị trường TCVM truyền thống tại Việt Nam là chỉ để phục vụ cho số người nghèo và những người thu nhập thấp và hộ thu nhập thấp hiện nay. Ngân hàng chính sách xã hội, một số Quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức TCVM bán chính thức vẫn là những nhà cung cấp tín dụng chủ yếu.

Lĩnh vực TCVM đang trong giai đoạn phát triển và từng ngày từng giờ những tổ chức này vẫn đang tìm tòi những hướng đi tốt để tiếp cận sâu rộng hơn tới cộng đồng những người yếu thế. Tuy nhiên, để làm được điều này theo ông Sebastian Dinjens, Giám đốc mạng lưới trao đổi về chuyên môn TCVM ở khu vực châu Á (INFI) cho rằng, những tổ chức TCVM cần phải chuyên nghiệp hóa hơn trong quản lý hiệu quả xã hội và thiết kế những sản phẩm phù hợp đặc biệt với nhu cầu của những người nghèo và yếu thế.

Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Tiêu chuẩn quản lý hiệu quả xã hội (SPM) đã ra đời và việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này sẽ là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. “Bộ tiêu chuẩn phản ánh một mối quan ngại rằng các tổ chức TCVM đã không còn tập trung vào khách hàng. Hầu hết các tổ chức này đều khẳng định tăng cường lợi ích cho các khách hàng, nhưng trong hai thập kỷ qua nhiều tổ chức đã tập trung vào bền vững tài chính hơn là nhu cầu của khách hàng. Nhiều tổ chức trong số đó tập trung vào kết quả tài chính vì họ chỉ quản lý hiệu quả tài chính. Còn các tổ chức có mục tiêu xã hội cũng phải quản lý hiệu quả xã hội của mình. Bằng việc định nghĩa và đẩy mạnh quản lý hiệu quả xã hội, bộ tiêu chuẩn sẽ góp phần hướng sự tập trung của các tổ chức trở lại vào khách hàng”, Ông Sebastian Dinjens, Giám đốc INFI chia sẻ.

Để người nghèo không phải đối mặt với rủi ro

Trong bối cảnh hiện nay, với việc các loại hình làm ăn kinh doanh lớn nhỏ khác nhau đều chấp nhận và khuyến khích phát triển, việc hỗ trợ các nhóm đối tượng chịu thiệt thòi tiếp cận với nền kinh tế thị trường là điều phù hợp, thay cho cách tiếp cận mang tính nhân đạo trước đây. Nhiều chương trình và dự án sử dụng các công cụ tài chính để giúp những người yếu thế trong quá trình phát triển kinh tế có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống. 

Ông Sebastian Dinjens cho biết, rất nhiều tổ chức đang làm việc với những người dân ít được đào tạo, thậm chí là mù chữ. Họ thường sống ở những vùng nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, cho nên việc gia tăng thương mại với các nước đang mở ra nhiều cơ hội nhưng những người dân không có vốn để sản xuất ở dạng quy mô lớn đáp ứng cho thị trường này. Trong khi đó những khoản họ có thể tiết kiệm được lại thường không đủ cho những nhu cầu đầu tư. Đây chính là lúc mà TCVM có thể tác động bằng cách đưa ra những khoản vay để người dân đầu tư và phát triển làm ăn mà không phải đối mặt với nhiều rủi ro. Tuy nhiên điều này cũng yêu cầu các tổ chức TCVM phải có kiến thức về nhu cầu của những khách hàng và sẵn sàng đầu tư vào những mối làm ăn nhỏ của người dân nghèo Việt Nam.

Trên tinh thần đó, các hoạt động can thiệp về TCVM của INFI hiện nay, chủ yếu nhằm mục đích cải thiện sinh kế cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và cộng đồng. Trong một số trường hợp, các hoạt động TCVM cũng hướng đến việc tạo ra tính bền vững về mặt tài chính cho các chương trình, dự án.

“Trong các chương trình và dự án của Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam và INFI thực hiện, đã có 115 quỹ tín dụng vi mô và tiết kiệm được thành lập, cung cấp vốn vay cho hơn 7.000 hộ gia đình với tổng số vốn lên tới 14 tỷ đồng tính đến năm 2013. Ban đầu, nhiều người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn không dám vay vốn hoặc không quen với việc sử dụng vốn vay. Đến nay họ đều có khả năng sử dụng đồng tiền vay mượn và tiền tiết kiệm để phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đầu tư kinh doanh nhỏ hay mở rộng quy mô sản xuất. Trong tương lai, chúng tôi không chỉ hướng đến việc tăng cường phát triển doanh nghiệp vi mô cá thể và nhóm, mà còn hỗ trợ các nhóm sản xuất để giúp các nhóm này phát triển thành các doanh nghiệp nhỏ có khả năng tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện sinh kế cho những đối tượng chịu thiệt thòi”, ông Sebastian Dinjens thông tin.

Từ khóa: tài chính vi mô , xã hội , kinh tế , hiệu quả , dự án , người nghèo , người thu nhập thấp , nông thôn , lãi suất , bẫy nợ nần , đòn bẩy kinh tế , tín dụng , quỹ , GDP Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Thứ năm 13/02/2014 09:07

(Tài chính) Từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Các DN vừa và nhỏ này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật. Nguồn: internet

Tại Đại hội câu lạc bộ Pháp chế DN nhiệm kỳ III mới đây, ThS. Đặng Thị Tuyết, Trưởng ban pháp chế Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam cho biết, Công ty mẹ có bộ phận pháp chế độc lập và toàn bộ tập đoàn có hơn 100 cán bộ pháp chế. Hiện tập đoàn này có 60 công ty con và 22 đơn vị hạch toán phụ thuộc trong công ty mẹ. Do đó công tác pháp chế có vai trò quan trọng để đảm bảo hoạt động thông suốt và an toàn của tập đoàn. Tập đoàn đã triển khai đồng bộ công tác pháp chế từ công ty mẹ xuống công ty con...

Quan trọng nhất là bộ phận pháp chế đã tư vấn cho lãnh đạo DN phòng ngừa rủi ro pháp lý đối với các giao dịch, thẩm định, tư vấn đối với dự thảo hợp đồng hoặc trực tiếp tham gia đàm phán.

Một đơn vị khác là liên doanh dầu khí Vietsovpetro, đơn vị này có tới 7.000 lao động và có bộ phận pháp chế độc lập từ 30 năm nay. Luật sư Trần Văn Bình, Trưởng phòng Luật Vietsovpetro chia sẻ, đối với xí nghiệp nhỏ, có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật hoặc văn phòng luật nhưng với DN lớn thì cần có bộ phận pháp chế riêng biệt, có như vậy mới đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động của DN. Bộ phận này không chỉ thẩm định hợp đồng, xử lý khiếu nại, tranh chấp… mà còn tham gia nhiều mặt hoạt động như đảm bảo DN thực thi đúng pháp luật, không để xảy ra rủi ro, ban hành các văn bản quản lý nội bộ DN, công tác quản lý vật tư, tài sản…

Tuy nhiên, ThS. Đặng Thị Tuyết cũng cho rằng, công tác pháp chế nội bộ DN vẫn còn nhiều hạn chế như trình độ của cán bộ, dù là được đào tạo chuyên ngành luật, song phần đông là thuyên chuyển từ công tác khác sang.

Hơn nữa, nhiều DN gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin pháp luật, trong khi hệ thống pháp luật trong quá trình làm luật và sửa đổi quy định pháp luật liên tục có sự thay đổi dẫn đến DN khó cập nhật kiến thức pháp luật kịp thời, chuẩn xác.

Với DN vừa và nhỏ, công tác pháp chế còn nhiều hạn chế hơn khi các DN này chủ yếu thành lập từ năm 2000 trở lại đây trong thời kỳ mà Nhà nước ban hành rất nhiều văn bản pháp luật cho kịp với thông lệ WTO. Luật gia Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam cho biết, khu vực này sử dụng 60% lao động và mỗi năm tăng thêm nửa triệu lao động... nhưng nhận thức pháp luật trong khối DN này còn nhiều mờ nhạt và là vấn đề đáng phải quan tâm như sự hiểu biết pháp luật quản trị DN còn yếu, nhân sự pháp chế thiếu.

Không chỉ thế, từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm DN này trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Ở góc độ khác, ông Đinh Việt Thanh, Pháp chế Tổng Công ty May 10 – Công ty cổ phần nhận xét, hiện nay DN bị điều chỉnh bởi rất nhiều luật, có luật chỉ mới áp dụng vài năm đã không phù hợp thực tế. Đặc điểm này là do tiếng nói DN trong quá trình tham gia xây dựng luật còn hạn chế, đặc biệt là các hiệp hội ngành nghề chưa có tiếng nói trọng lượng trên diễn đàn xây dựng luật. Thực tế, DN gặp nhiều vướng mắc trong thực thi luật mà phổ biến nhất là mỗi tỉnh vận dụng một kiểu. Những vấn đề này cần phải được đúc kết để tham gia xây dựng pháp luật.

Từ thực tế trên, luật gia Tô Hoài Nam đề xuất: câu lạc bộ Pháp chế DN cần phối hợp chặt chẽ hơn với các hiệp hội trong đó có Hiệp hội DN vừa và nhỏ để ghi nhận những phản ánh của DN, từ đó góp ý công tác xây dựng chính sách, pháp luật để pháp luật đáp ứng thực tiễn hoạt động kinh doanh.

Theo thoibaonganhang.vn

Từ khóa: pháp chế , Vietsovpetro , doanh nghiệp vừa và nhỏ , công ty mẹ , pháp lý , lao động , hiệp hội , công ty con , doanh nghiệp Các tin đã đưa Lãng phí có nghiêm trọng hơn tham nhũng? Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi" Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên Đại gia phạm luật: Ai dám xử? Sở hữu chéo, gỡ được đến đâu? Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ Đằng sau chuyện vượt rào sở hữu cổ phần ngân hàng Đại lý bảo hiểm - “lỗ hổng” của doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên

Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên

Thứ hai 17/02/2014 15:09

(Tài chính) Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao vừa tống đạt cáo trạng lần 2 truy tố 9 bị can liên quan đến vụ án gây thiệt hại kinh tế lớn tại Ngân hàng ACB và một số đơn vị khác tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, ngoài 7 bị can như cáo trạng lần 1, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố bổ sung 2 bị can, là ông Phan Trung Cang, nguyên Phó Chủ tịch Hội đòng quản trị ACB (Sinh năm 1954, trú tại quận 3, TP. Hồ Chí Minh) và Huỳnh Quang Tuấn, nguyên thành viên Hội đồng quản trị ACB (Sinh năm 1958, trú tại Đống Đa, Hà Nội).

Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao vừa tống đạt cáo trạng lần 2 truy tố 9 bị can liên quan đến vụ án gây thiệt hại kinh tế lớn tại Ngân hàng ACB và một số đơn vị khác tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Nguồn: internet

Theo cáo trạng, ngày 22/3/2010, Thường trực Hội đồng quản trị ACB triệu tập cuộc họp bàn phương án sử dụng nguồn vốn chưa đầu tư của ACB. Tại cuộc họp, ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc ACB, thành viên Hội đồng quản trị đã đề xuất phương án ủy thác cho nhân viên mang tiền của ACB đi gửi vào ngân hàng khác để nhận lãi suất tiền gửi và hưởng thêm hoa hồng, khuyến mại. Các ông Trần Xuân Giá, Trịnh Kim Quang, Phan Xuân Cang, Lê Vũ Kỳ, Lý Xuân Hải, Huỳnh Quang Tuấn đã thống nhất phương án này và ký vào biên bản cuộc họp.

Từ nghị quyết này, Tổng giám đốc Lý Xuân Hải đã chỉ đạo và ủy quyền cho Kế toán trưởng thực hiện ủy thác cho 19 nhân viên ACB gửi tiết kiệm vào Vietinbank Nhà Bè và Vietinbank TP. Hồ Chí Minh, thời hạn 3 - 6 tháng, lãi suất 14%/năm, lãi suất ngoài hợp đồng là 3,7 - 13%/năm.

Tuy nhiên, số tiền này đã bị Huỳnh Thị Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối, rút ra chiếm đoạt 718,9 tỷ đồng. Tổng cộng, trong giai đoạn từ 26/1/2011 đến 26/9/2011, ACB qua ủy thác đã gửi vào 22 ngân hàng số tiền hơn 28.379 tỷ đồng, với lãi suất từ 7,5 - 22%/năm. Tổng tiền lãi là 1.162,5 tỷ đồng, trong đó lãi vượt trần 243,6 tỷ đồng.

Theo cơ quan công tố, hành vi này đã vi phạm các quy định của Luật Tổ chức tín dụng khi Ngân hàng Nhà nước chưa có quy định hướng dẫn về nghiệp vụ ủy thác.

Do đó, cơ quan công tố đã truy tố Nguyễn Đức Kiên, Trần Xuân Giá, Lý Xuân Hải, Huỳnh Quang Tuấn, Trịnh Kim Quang, Phan Xuân Cang, Lê Vũ Kỳ về tội Cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế của Nhà nước (khoản 3, Điều 165, Bộ luật Hình sự), với khung hình phạt từ 10 - 20 năm tù giam.

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: ACB , Lý Xuân Hải , ủy thác , Nguyễn Đức Kiên , Lê Vũ Kỳ , Trần Xuân Giá , hội đồng quản trị , Ngân hàng Công thương Việt Nam , Phan Trung Cang Các tin đã đưa Lãng phí có nghiêm trọng hơn tham nhũng? Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi" Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên Đại gia phạm luật: Ai dám xử? Sở hữu chéo, gỡ được đến đâu? Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ Đằng sau chuyện vượt rào sở hữu cổ phần ngân hàng Đại lý bảo hiểm - “lỗ hổng” của doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP

Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP

Thứ ba 11/02/2014 14:51

(Tài chính) Việt Nam cùng với 11 quốc gia đang đàm phán để tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong “sân chơi” này, quan hệ thương mại của Việt Nam vừa có thêm cơ hội nhưng cũng không ít thách thức.

Quan hệ thương mại, đầu tư 

Các chỉ số thống kê một số chỉ tiêu chủ yếu của các thành viên TPP như sau:

BẢNG 1:  MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ TPP

Tên nước/Số liệu

 

Diện tích (1.000 km2)

Dân số 2012 (triệu người)

GDP 2011 (nghìn tỷ USD)

XK (tỷ USD)

NK(tỷ USD)

1. Mỹ

9.512,1

313,9

14.991

2.094

2.662

2. Nhật Bản

377,5

127,6

5.867

893

947

3. Canada

11.633,3

34,9

1.736

541

562

4. Singapore

0,7

5,3

240

501

432

5. Mexico

1.967,8

116,1

1.153

365

381

6. Australia

7.333,3

22

1.379

294

273

7. Malaysia

329,5

20,9

288

264

218

8. Chile

756,5

17,4

249

93

86

9. Peru

1.308,7

30,1

177

51

44

10.Newzealand

275

4,4

160

48

46

11. Brunei

5,6

0,4

16

12

3

12.Việt Nam

331,3 (8)

88,8 (4)

133 (11)

115 (8)

114

Cộng

33.831,3

781,8

26.389

5.271

5.768

.telerik-reTable-4 { border-collapse: collapse; border: solid 0px; font-family: Tahoma; } .telerik-reTable-4 tr.telerik-reTableHeaderRow-4 { border-width: 1.0pt 1.0pt 3.0pt 1.0pt; margin-top: 0in; margin-right: 0in; margin-bottom: 10.0pt; margin-left: 0in; line-height: 115%; font-size: 11.0pt; font-family: "Calibri" , "sans-serif"; width: 119.7pt; background: #4F81BD; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; color: #FFFFFF; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableHeaderFirstCol-4 { padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableHeaderLastCol-4 { padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableHeaderOddCol-4 { padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableHeaderEvenCol-4 { padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 tr.telerik-reTableOddRow-4 { border-width: 1pt; color: #666666; font-size: 10pt; vertical-align: top; border-bottom-style: solid; border-bottom-color: #4F81BD; } .telerik-reTable-4 tr.telerik-reTableEvenRow-4 { color: #666666; font-size: 10pt; vertical-align: top; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableFirstCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; border-bottom-style: solid; border-left-style: solid; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableLastCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; border-bottom-style: solid; border-right-style: solid; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableOddCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; border-bottom-style: solid; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableEvenCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; border-bottom-style: solid; } .telerik-reTable-4 tr.telerik-reTableFooterRow-4 { color: #355C8C; background-color: #FFFFFF; font-size: 10pt; vertical-align: top; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableFooterFirstCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; border-bottom-style: solid; border-left-style: solid; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableFooterLastCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; border-bottom-style: solid; border-right-style: solid; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableFooterOddCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; border-bottom-style: solid; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; } .telerik-reTable-4 td.telerik-reTableFooterEvenCol-4 { border-width: 1pt; border-color: #4F81BD; border-bottom-style: solid; padding: 0in 5.4pt 0in 5.4pt; }Nguồn: Tổng cục Thống kê

So với toàn thế giới, hiện các thành viên tham gia đàm phán TPP chiếm 24,9% về diện tích; 11,1% về dân số; chiếm 37,7% về GDP; chiếm khoảng 19,3% về xuất khẩu, khoảng 21,1% về nhập khẩu.

Trong 12 thành viên TPP, Việt Nam đứng thứ 8 về diện tích, thứ 4 về dân số, thứ 11 về GDP, thứ 8 về xuất khẩu, thứ 8 về nhập khẩu. Trong 12 nước, có 4 nước nhập siêu, lớn nhất là Mỹ; có 8 nước xuất siêu, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam chiếm 0,5% về GDP, chiếm 2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, chiếm gần 2% tổng kim ngạch nhập khẩu của TPP.

Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào TPP năm 2010 chiếm 43,3%, năm 2013 chiếm 39%. Nhập khẩu của Việt Nam năm 2013 từ TPP chiếm 22,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.

Xuất khẩu của Việt Nam vào TPP chiếm khoảng 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước thành viên TPP. Điều đó chứng tỏ TPP là thị trường tiềm năng của Việt Nam.

Trong quan hệ buôn bán giữa Việt Nam với các thành viên còn lại của TPP, Việt Nam ở vị thế xuất siêu khá lớn (năm 2013 đạt 21,4 tỷ  USD, bằng 41,5% kim ngạch xuất khẩu). Trong 11 nước, Việt Nam xuất siêu với 6 nước, lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, Australia, Canada…; nhập siêu với 5 nước, lớn nhất là Singapore.

Đầu tư trực tiếp của các thành viên TPP vào Việt Nam (tính từ 1988 đến hết 2013) như sau: Nhật  Bản 30 tỷ  USD, đứng thứ 1; Singapore 27,89 tỷ  USD, đứng thứ 3; Mỹ 10,56 tỷ  USD, đứng thứ 7; Malaysia 10,20 tỷ  USD, đứng thứ 8; Australia 1,38 tỷ  USD, đứng thứ 15. Chỉ với 5 đối tác này tổng lượng vốn FDI đăng ký đã đạt trên 80 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng lượng vốn FDI ở Việt Nam.

Cơ hội chủ yếu

Các cơ hội do việc tham gia TPP mang lại có nhiều, trong đó, chủ yếu gồm:

Thứ nhất, tạo điều kiện cho xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao, nhờ TPP gồm các thị trường lớn, trong đó có 2 thị trường lớn nhất của Việt Nam; thuế nhập khẩu về mức 0%; Nhật Bản xóa bỏ thuế nhập khẩu cho hàng nông sản trong TPP. Các mặt hàng được hưởng lợi lớn là dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ và nông sản. Đó là những mặt hàng mà kim ngạch xuất khẩu vào các nước thành viên TPP chiếm tỷ trọng lớn.

Thứ hai, việc tham gia TPP sẽ giúp cho Việt Nam cân bằng được quan hệ thương mại với các khu vực thị trường khác. Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2013 từ Trung Quốc là 36,95 tỷ USD, Hàn Quốc 20,7 tỷ USD, Đài Loan (Trung Quốc) 9,42 tỷ USD, Thái Lan 6,31 tỷ USD, Singapore 5,7 tỷ USD (chỉ với 5 thị trường này đã đạt 79,1 tỷ USD, chiếm 59,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam).

Cũng chỉ với 5 thị trường này, tổng mức nhập siêu lên đến 51,22 tỷ USD, trong đó riêng Trung Quốc đã chiếm gần một nửa. Đáng lưu ý, việc nhập khẩu, nhập siêu lớn từ Trung Quốc có một phần do là nước láng giềng có đường biên giới dài, một phần lớn do nhiều người ở Việt Nam ham giá rẻ, trong khi máy móc thiết bị chiếm tỷ trọng lớn thì không phải là công nghiệp nguồn, nhiều loại hàng tiêu dùng không được kiểm tra chặt chẽ, vệ sinh an toàn…

Theo quy tắc xuất xứ, hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các thành viên TPP muốn được hưởng thuế suất như trên, thì phải có nguyên liệu tự sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước thành viên TPP. Tuy nhiên, phần nguyên phụ liệu của Việt Nam phần lớn lại phụ thuộc nhập khẩu từ các nước nằm ngoài TPP (nhất là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, một số nước trong khu vực ASEAN).

Vấn đề đặt ra là chúng ta cần đẩy mạnh phát triển công nghệ phụ trợ; đẩy mạnh sản xuất nguyên vật liệu sản xuất ở trong nước; chuyển trọng tâm nhập khẩu sang các thành viên TPP…

Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam của các nước thành viên TPP và các nước khác ngoài TPP sẽ gia tăng để tận dụng cơ hội gia tăng xuất khẩu vào TPP, nhất là các thị trường lớn, như Mỹ, Nhật Bản, Canada…

Thứ tư, tham gia và với tác động của  TPP với các cam kết sâu, rộng hơn WTO đòi hỏi Việt Nam đẩy nhanh công cuộc tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng…

Thứ năm, theo Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới thể chế, thì việc tham gia TPP của Việt Nam sẽ có tác động tích cực trong việc hoàn thiện thể chế cũng như cải cách hành chính.

Thách thức không nhỏ

Thách thức lớn và dễ thấy nhất là sức ép cạnh tranh. Thách thức sức ép cạnh tranh xuất phát từ 3 động thái, đó là việc giảm thuế nhập khẩu về 0%; mở cửa thị trường dịch vụ đầu tư và mua sắm chính phủ trong khuôn khổ TPP.

Sức ép cạnh tranh do giảm thuế nhập khẩu về 0%, chủ yếu đến từ các nước mà Việt Nam hiện chưa có quan hệ FTA, gồm Mỹ, Canada, Mexico và Peru; còn 7 nước mà Việt Nam đã có quan hệ FTA như Brunei, Malaysia, Singapore, Australia, Chile, New Zealand, Nhật Bản, thì trong tương lai gần, dù Việt Nam có tham gia hay không tham gia TPP, thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng hóa của những nước này vẫn được hạ về 0%. Ngay cả đối với 4 nước mà Việt Nam chưa có quan hệ FTA, thì hoặc là có cơ cấu xuất nhập khẩu mang tính bổ sung hơn là cạnh tranh với cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam (như Mỹ, Canada), hoặc là không có triển vọng nhâm nhập thị trường Việt Nam với mức độ lớn để gây ra sức ép cạnh tranh (như Peru, Mexico).

Nếu phân tích sâu cơ cấu xuất khẩu của các ngành công nghiệp, có thể thấy mức độ cạnh tranh cụ thể như sau:

- Những ngành sản xuất của Việt Nam thực sự gặp khó khăn sẽ là ô tô, thịt lợn, thịt bò và đường; sau đó là thực phẩm chế biến, rượu và  hoá phẩm tiêu dùng;

- Những mặt hàng được bảo hộ cao như muối, lá thuốc lá, trứng gia cầm, thép, giấy…, do các nước TPP hoặc là không xuất khẩu hoặc là xuất khẩu hướng đến phân khúc thị trường khác so với sản xuất trong nước;

- Riêng với xăng dầu, tác động được xét chủ yếu là Việt Nam sẽ mất đi một trong những công cụ điều hành giá quan trọng.

Trong việc mở cửa lĩnh vực dịch vụ, sau 7 năm thực hiện cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì độ mở của lĩnh vực này đã khá hơn, nhưng sức ép cạnh tranh từ 3 ngành chính là ngân hàng, thương mại bán lẻ và một phần từ viễn thông giá trị gia tăng.

Trong lĩnh vực mua sắm chính phủ, sức ép cạnh tranh tuy có nhưng sẽ tăng lên dần.

Một thách thức không nhỏ khác là thu ngân sách. Năm 2013, thách thức này chủ yếu đến từ hiệu quả sản xuất kinh doanh ở trong nước và sự suy giảm tăng trưởng kinh tế. Khi tham gia TPP, thách thức sẽ có thêm từ việc giảm thuế nhập khẩu. Vì vậy, việc tăng quy mô xuất nhập khẩu sẽ được bù đắp bằng thu từ thuế giá trị gia tăng (loại thuế không phải xoá bỏ trong FTA).

TPP là mô hình mới về hợp tác kinh tế, vừa có tính toàn diện, vừa có mức độ cam kết sâu. Vì thế, tận dụng được cơ hội để hạn chế và vượt qua thách thức sẽ tạo ra kỳ vọng mới.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: TPP , quan hệ thương mại , xuất khẩu , nhập khẩu , nhập siêu , cải cách hành chính , cạnh tranh , tiêu dùng , thị trường Các tin đã đưa "Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình" Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước - Làm gì để tăng tốc? “Quá nuông chiều doanh nghiệp FDI” Vẫn muốn “đẻ” thêm ngân hàng làm gì? Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Thực thi cam kết TPP - cơ hội và thách thức Nợ công của Việt Nam năm 2013 và quản lý nợ trung hạn Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ Thị trường tài chính 2014 sẽ tích cực hơn Mua bán tài sản: Giá đắt, giá rẻ và giá tốt Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

"Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình"

"Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình"

Thứ tư 12/02/2014 09:00

(Tài chính) Đầu năm mới, tại một cuộc nói chuyện với các doanh nhân, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã chỉ rõ những thách thức, cơ hội và triển vọng phát triển của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam trong thời gian tới. 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Những thách thức trước mắt

Một là, kinh tế vĩ mô vẫn còn bất ổn, trong thời gian tới, Chính phủ cần phải đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu. Nhiều vấn đề dài hạn vẫn chưa thể sớm giải quyết. Môi trường kinh doanh, hệ thống khuyến khích chưa chuyển. Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển tiếp tục khó khăn. Về dài hạn, muốn ổn định kinh tế vĩ mô cần phải tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế, không thể chỉ bình ổn trong thời gian ngắn.

Hai là, kinh tế thế giới chậm cải thiện và những thay đổi liên tục diễn ra trong thương mại toàn cầu và ở các nền kinh tế lớn cũng như trong khu vực. Kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế mở, xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nên phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế toàn cầu. Trong khi nền kinh tế thế giới đang thay đổi rất nhanh thì Việt Nam đang có chiều hướng bị “hụt hơi” và không theo kịp tốc độ thay đổi của thương mại thế giới để tận dụng những cơ hội và tránh được những thách thức đặt ra.

Ba là, nhiều cam kết FTA mới mà nước ta tham gia với mức độ, phạm vi tự do hóa và các chuẩn mực cao hơn, tốc độ nhanh hơn. Trong thời gian tới, sẽ hoàn thành cơ bản hệ thống Cộng đồng kinh tế ASEAN; Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm 10 thành viên ASEAN và 6 đối tác (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand); Đàm phán TPP với Mỹ; Đàm phán giữa EU và FDI… Như vậy, một loạt những cơ hội mới được đặt ra, mở rộng hơn nhiều so với những cam kết trước đây Việt Nam đã có.

Việc theo kịp những đòi hỏi của WTO đã là rất khó đối với nền kinh tế Việt Nam, bởi vậy không dễ dàng gì để DN trong nước có thể tận dụng được các cơ hội từ tự do hóa thương mại. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành đã từng đặt ra vấn đề: Liệu chúng ta có tận dụng được những cơ hội này hay lại biến cơ hội thành thách thức, biến thách thức thành khủng hoảng…

Bốn là, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong nước tăng mạnh về nhiều mặt từ 2015, đặc biệt là sự gia tăng của các DN FDI cũng như hàng hóa từ Trung Quốc và các nước ASEAN. Từ 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ hình thành, sự có mặt của các nước này trên thị trường Việt Nam sẽ gia tăng nhanh chóng. Trong khoảng 2 năm trở lại đây, tốc độ của DN ASEAN thâm nhập thị trường Việt Nam đang tăng lên mạnh mẽ và họ sẵn sàng mua DN, nhà máy, xưởng sản xuất lớn để tìm kiếm những chỗ đứng trên thị trường nước ta.

Chiến lược của họ rất bài bản và cặn kẽ để có thể xâm chiếm thị trường, bởi vậy ngay tại thị trường Việt Nam, các DN trong nước cũng gặp nhiều khó khăn để cạnh tranh với chính những mặt hàng chủ đạo như xi măng, sắt, thép… Chưa kể đến trong giai đoạn 2015-2018, Việt Nam  phải thực hiện cam kết ASEAN - Trung Quốc, việc gỡ bớt rào cản về thuế sẽ còn đẩy nhanh hơn nữa quá trình này.

Năm là, bản thân các DN phải tự tái cơ cấu, điều chỉnh chiến lược cạnh tranh, tự vượt khó để tồn tại và thích ứng với những đòi hỏi mới trong khi nguồn lực lại có hạn, tương lai chưa chắc chắn và niềm tin thấp. Một trong những thành công lớn nhất của đổi mới là sự phát triển của các DN thổi bùng lên tinh thần kinh doanh của người Việt Nam nhưng hiện nay tinh thần đó đang đi xuống và gặp khó khăn.

Những cơ hội mở ra

Cơ hội của DN phụ thuộc vào các nhân tố vĩ mô. Nếu như Nhà nước thực sự thực hiện được 3 đột phá chiến lược như Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu ra, đặc biệt là về thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng có thể giúp nền kinh tế dần ổn định và tăng trưởng theo hướng bền vững. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng, mở ra rất nhiều cơ hội cho các DN.

Tái cơ cấu tạo sự cải thiện môi trường kinh doanh, phân bổ nguồn lực và chính sách khuyến khích công bằng, hiệu quả hơn. Một trong những yếu tố quan trọng của tái cơ cấu DNNN là để đảm bảo cho môi trường kinh doanh công bằng hơn, cạnh tranh tốt hơn. Một mặt, việc cạnh tranh công bằng giúp DNNN tự cải thiện mình đồng thời tạo môi trường rộng mở cho khu vực DN tư nhân phát triển. Thủ tướng Chính phủ đã cam kết với cộng đồng quốc tế sẽ đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, điều này cho thấy chỉ khi DNNN chấp nhận rút bớt sân chơi của mình thì các khu vực khác mới có thêm cơ hội để tiếp cận và phát triển.

Hội nhập quốc tế sâu hơn và các FTA mới (EPA, TPP, EU) tạo sự cải thiện môi trường kinh doanh, cơ hội thương mại và đầu tư về nhiều mặt giúp các DN phát triển.

Thị trường khu vực phát triển khá cao và ổn định với những xu thế mới như: chú trọng thị trường nội địa, nâng cao trình độ công nghệ, tăng cường liên kết kinh tế trong khu vực.

Các DN hiện nay đã thấy hết được những vấn đề sống còn cho phát triển dài hạn của mình, thấy rõ phải thay đổi mạnh. Năng lực của các DN đã khá hơn, đội ngũ trẻ được đào tạo tốt hơn và có nhiều lựa chọn cho con đường sắp tới.

Những kỳ vọng phát triển

Thứ nhất, trong thời gian tới, nếu như thực hiện tốt tái cơ cấu thì DNNN và khu vực tư nhân trong nước sẽ lấy lại được vai trò động lực của mình trong nền kinh tế, tăng cường hợp tác cùng phát triển với các DN FDI. Theo báo cáo của nhóm nghiêm cứu kinh tế cho thấy, trong 4 động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có 3 động lực đã bị xuống quá thấp (DNNN, khu vực tư nhân và nông nghiệp), động lực còn lại là đầu tư nước ngoài lại không bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống thể chế môi trường kinh doanh Việt Nam.

Thứ hai, khu vực DN trong nước cải thiện vị thế trong xuất khẩu và công nghiệp, tăng tham gia vào nông nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhân tố đầu vào. Đây cũng là vấn đề quan trọng bởi trong những năm gần đây, vị thế xuất khẩu của nước ta đang suy giảm nhường sân cho DN đầu tư nước ngoài (chiếm khoảng 65% xuất khẩu của Việt Nam), tốc độ tăng xuất khẩu của các DN Việt Nam cực thấp (chỉ khoảng 1,3%). Mức tăng xuất khẩu hiện nay quá thấp trong khi điều kiện thị trường bên ngoài vẫn còn tốt.

Trong khi đó, các DN nước ngoài chớp cơ hội kinh doanh nhảy vào thị trường Việt Nam chiếm lĩnh thị phần, mua lại các DN Việt Nam. Đối với công nghiệp cũng vậy, các DN nước ngoài hiện nay chiếm khoảng 45% giá trị sản lượng công nghiệp và vẫn đang tiếp tục mua lại các DN của Việt Nam. Nếu các DN trong nước không cố gắng vươn lên thì trong nay mai người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên chính quê hương của mình.

Thứ ba, tăng cường liên kết giữa DN với nhau và với nông dân, trí thức để cùng phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.

Thứ tư, DN Việt Nam đổi mới tư duy và cách thức phát triển dựa vào công nghệ, sáng tạo để tăng năng lực cạnh tranh, tạo lợi thế mới, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Đây là những kỳ vọng DN Việt Nam phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, DN trong nước phát triển tốt hơn vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào cải cách, định hướng chính sách của Nhà nước cũng như bản thân các DN.

Chúng ta chỉ còn 2 năm nữa trước khi các FTAs mới hình thành đầy đủ và đi vào thực hiện, nếu như các DN không tăng tốc chuẩn bị thì sẽ không thể phát triển được. Các DN cần phải tự tin, nghĩ mới, làm mới để vươn lên không chỉ cho chính mình mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.

Bài đăng trên báo Kiểm toán số 1 - 2014

Từ khóa: doanh nhân , doanh nghiệp Việt Nam , kinh tế vĩ mô , môi trường kinh doanh , tái cơ cấu nền kinh tế , cạnh tranh , thị trường , tăng trưởng kinh tế Các tin đã đưa "Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình" Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước - Làm gì để tăng tốc? “Quá nuông chiều doanh nghiệp FDI” Vẫn muốn “đẻ” thêm ngân hàng làm gì? Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Thực thi cam kết TPP - cơ hội và thách thức Nợ công của Việt Nam năm 2013 và quản lý nợ trung hạn Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ Thị trường tài chính 2014 sẽ tích cực hơn Mua bán tài sản: Giá đắt, giá rẻ và giá tốt Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS