Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Thứ sáu 28/03/2014 14:10

(Tài chính) Chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật về doanh nghiệp và chứng khoán mà thời gian qua, không ít công ty đại chúng đã bị xử phạt vì những lỗi không đáng có. Hậu quả là không chỉ bị giảm sút uy tín mà doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động như hiện nay.

TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Nguồn: internet

Chưa bị phạt là may!

Đến nay, vẫn còn không ít doanh nghiệp đủ điều kiện là công ty đại chúng nhưng chưa đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Trong khi đó, cũng có không ít công ty đại chúng, kể cả những công ty đang có cổ phiếu giao dịch trên sàn UPCoM không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, hoặc có thực hiện nhưng nửa vời, ví dụ báo cáo tài chính không có thuyết minh, các báo cáo không được lưu trữ đầy đủ trên website của công ty…

Trong nhiều trường hợp, việc vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin là do doanh nghiệp cố tình che giấu thông tin. Nhưng cũng có không ít trường hợp lại bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật, để rồi bị xử phạt vì những lỗi rất sơ đẳng. Cứ xem các quyết định xử phạt của UBCKNN gần đây sẽ thấy, một loạt doanh nghiệp mắc phải lỗi không công bố các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị công ty… đầy đủ và kịp thời.

Pháp luật quy định, công ty đại chúng phải có website để thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và website phải thiết kế một mục dành riêng cho cổ đông hay quan hệ nhà đầu tư. Vậy mà, vẫn có doanh nghiệp bị xử phạt vì website không có chuyên mục này.

Tại Hội nghị “Doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết 2014” do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) phối hợp với UBCKNN tổ chức hôm 26/3 vừa qua tại TP. HCM, nhiều doanh nghiệp đã đặt câu hỏi với đại diện cơ quan quản lý thị trường, để lộ nhiều “lỗ hổng” về kiến thức pháp luật cơ bản đối với doanh nghiệp, mà với những “lỗ hổng” ấy, doanh nghiệp chưa bị phạt… là may!

Đại diện một doanh nghiệp thuỷ điện có 99% vốn Nhà nước, 1% vốn góp của cán bộ nhân viên đã đặt câu hỏi: “Luật pháp quy định, công ty đại chúng buộc phải đăng ký lưu ký tập trung, nhưng chúng tôi thấy làm như thế phiền phức và tốn kém. Hơn nữa, chúng tôi đang tự quản lý cổ đông rất tốt. Chúng tôi không đăng ký công ty đại chúng có được không?”.

Một loạt câu hỏi tương tự cũng được đặt ra, như công ty đang thuê công ty chứng khoán (CTCK) quản lý sổ cổ đông có vi phạm luật không? Quy định hiện hành có bắt buộc công ty đại chúng phải niêm yết, đăng ký giao dịch trên UPCoM không? Công ty có vốn 16 tỷ đồng có bắt buộc phải đăng ký chứng khoán và đăng ký giao dịch không?

Trước những câu hỏi như thế, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN đã thốt lên: “Những câu hỏi mà đại diện các doanh nghiệp đưa ra cho thấy, các doanh nghiệp nắm chưa vững cả Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật về chứng khoán. Vì thế, các doanh nghiệp vi phạm dẫn đến bị xử phạt cũng là lẽ đương nhiên”.

Theo quy định, doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có ít nhất 100 cổ đông thì được xem là công ty đại chúng và đã là công ty đại chúng thì phải đăng ký lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD). Nếu công ty đại chúng thuê CTCK quản lý cổ đông thì cả hai đều sai.

Về quy định tại Luật Doanh nghiệp, có người hỏi: “Cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phiếu trong vòng 5 năm, nếu đại  hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua có phạm luật không?”. Rõ ràng, người hỏi đã không nắm được quy định tại Luật Doanh nghiệp về thời gian hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập là 3 năm, chứ không phải 5 năm.

Ngoài ra, pháp luật quy định việc hạn chế chuyển nhượng, chứ không phải không được chuyển nhượng, bởi trong thời hạn đó, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận.

Trước câu hỏi “Điều lệ công ty cổ phần quy định cổ đông phải nắm giữ một tỷ lệ nhất định mới được tham dự ĐHĐCĐ có vi phạm Luật Doanh nghiệp không?”, ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCKNN giải thích điều này chắc chắn vi phạm.

“Tôi không nghĩ đến giờ này vẫn còn băn khoăn như vậy, bởi nó đã diễn ra cách đây khoảng 4 - 5 năm và trên nhiều phương tiện truyền thông đã nói rất rõ về việc quy định như vậy là trái với Luật Doanh nghiệp”, ông Hải nói.

Lỡ cơ hội vì thiếu hiểu biết

Trước ý kiến lo ngại về việc trong khi có nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật thì vẫn còn một số khác chưa tuân thủ pháp luật sẽ gây nên tình trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, bà Vũ Thị Chân Phương, Vụ Trưởng Vụ Thanh tra, UBCKNN đã khuyến cáo, doanh nghiệp nếu làm sai sẽ dẫn đến bị khiếu kiện, khiếu nại hoặc bị xử phạt, tự đánh mất uy tín của mình.

“Doanh nghiệp đã đủ điều kiện thành công ty đại chúng, nhưng không đăng ký với UBCKNN, từ đó không công bố thông tin định kỳ, không báo cáo, không có website… Đến khi UBCKNN phát hiện thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt cho một loạt các vi phạm đó. Số tiền phạt sẽ là tổng mức phạt cho tất cả các hành vi vi phạm này”, bà Phương cho biết.

Còn theo ông Bùi Hoàng Hải, không có UBCKNN nước nào có đủ năng lực kiểm soát tất cả. “Vừa qua, chúng tôi đã nghiên cứu TTCK Mỹ và thấy rằng, tốt nhất là UBCKNN tập trung xử lý sau khi các vi phạm được phát hiện, chủ yếu là từ các khiếu nại của cổ đông, nhà đầu tư. UBCKNN Việt Nam cũng chỉ có thể xử lý được những doanh nghiệp có đăng ký công ty đại chúng. Nếu công ty đã trở thành đại chúng rồi mà không đăng ký công ty đại chúng thì người giám sát tốt nhất lúc này chính là các cổ đông. Cách mà UBCKNN đang thực hiện là tăng cường phổ biến kiến thức, giúp các cổ đông có thể tự kiểm soát và bảo vệ quyền lợi của mình”, ông Hải nói.

Ông Hải cho biết, nhiều doanh nghiệp trước đây muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn, nhưng chưa làm được, do thị trường không thuận lợi, thì nay khi TTCK khởi sắc hơn đã bắt đầu nộp hồ sơ xin phép chào bán trở lại. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ phải mất 6 tháng mới được cấp phép do dính những lỗi nhỏ, chẳng hạn như nghị quyết ĐHĐCĐ không được hiện đúng luật, không ghi rõ phương án phát hành, thiếu phương án sử dụng vốn, điều lệ có quy định trái với Luật Doanh nghiệp…

“TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch chào bán chứng khoán trở lại. Nhưng nếu doanh nghiệp phải chờ tới 6 tháng nữa hồ sơ phát hành mới được thông qua thì cơ hội tốt nhất sẽ trôi qua. Vì thế, doanh nghiệp nào có ý định chào bán cổ phiếu thì nên làm việc với CTCK tư vấn để chuẩn bị chu đáo mọi hồ sơ ngay từ đầu, tránh trường hợp hồ sơ bị kéo dài quá lâu”, ông Hải khuyến cáo.            

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp đại chúng , doanh nghiệp đại chúng , sử dụng vốn , vốn điều lệ , công ty chứng khoán , cổ đông , Luật Doanh nghiệp , chào bán cổ phiếu Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Thứ sáu 28/03/2014 15:39

(Tài chính) Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nguồn: internet

Từ quý II/2013: Số doanh nghiệp thành lập mới đã tăng trở lại

Điều đáng lưu ý là bắt đầu từ quý II/2013 đến nay, các quý đều có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: quý II/2013 tăng 20,1%, quý III/2013 tăng 18,1%, quý IV/2013 tăng 8%, so với cùng kỳ năm trước.

Tại các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia tăng về số doanh nghiệp thành lập so với cùng kỳ năm 2013: vùng Đồng bằng sông Hồng có 4.942 doanh nghiệp thành lập tăng 10,5%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 746 doanh nghiệp thành lập tăng 35,9%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 2.443 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 974 doanh nghiệp thành lập tăng 133%; vùng Đông Nam Bộ có 7.638 doanh nghiệp thành lập tăng 18,2%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 1.613 doanh nghiệp thành lập tăng 2,5%.

Ngược với xu hướng gia tăng chung của cả nước, một số địa phương vẫn có sự suy giảm về số doanh nghiệp thành lập mới, như: Hải Phòng giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 7,1%; Khánh Hòa giảm 16,6%; Bình Định giảm 36,4%; Sóc Trăng giảm 41,8%; Hậu Giang giảm 42,7%; Cao Bằng giảm 53,8%.

Về lĩnh vực, ngành nghề đăng ký hoạt động, trong quý I/2014 hầu hết đều có sự gia tăng của số doanh nghiệp thành lập mới, đặc biệt, một số ngành có tỷ lệ tăng cao như: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,2%; Kinh doanh bất động sản tăng 22,6%; Thông tin và truyền thông tăng 42,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,4%; Giáo dục và Đào tạo tăng 51,2%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 52,1%; Sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 57,3%.

Số doanh nghiệp khó khăn rơi vào tình trạng ngừng hoạt động trước và trong quý I/2013 quay trở lại hoạt động là 4.622 doanh nghiệp, trong đó tập trung chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng Sông Hồng 1.458 doanh nghiệp (Hà Nội 1.052 doanh nghiệp); vùng Đông Nam Bộ 1.913 doanh nghiệp (Hồ Chí Minh 1.525 doanh nghiệp).

Lĩnh vực có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung nhiều nhất là: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với 1.654 doanh nghiệp.

Quý I/2014, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký là 16.745 doanh nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 3.846 doanh nghiệp, tăng 7,8%; Số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 10.318 doanh nghiệp, tăng 9,3%; Số doanh nghiệp giải thể là 2.581 doanh nghiệp, tăng 13,6%

Ngược với xu hướng tốt lên của doanh nghiệp thành lập mới, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng, như: vùng Đông Nam Bộ tăng 18,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 26,1%.

 Tuy nhiên, một số khu vực được coi là đầu tàu kinh tế đã có xu hướng tốt lên so với cùng kỳ năm 2013 là Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động giảm 3%.

Xem xét các lĩnh vực, ngành nghề doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong quý I/2014, một số ngành có dấu hiệu tốt hơn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm, như: Sản xuất, phân phối điện, nước, gas giảm 5,4%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 14,7%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 33%.

Tuy nhiên, một số ngành, lĩnh vực vẫn có số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng cao như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 52,5%; Giáo dục và đào tạo tăng 27,3%.

Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp dần phát huy tác dụng

Đánh giá về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh là Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, các giải pháp bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy nền kinh tế dần dần vượt qua thời kỳ khó khăn.

Với những chính sách giảm, giãn, hoàn, miễn thuế, phí, lệ phí được ban hành trong năm 2013, thì một số ngành trực tiếp được hưởng lợi từ các chính sách này và có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều trong Quý I năm 2014 như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (1.654 doanh nghiệp); Xây dựng (878 doanh nghiệp); Công nghiệp chế biến, chế tạo (579 doanh nghiệp).

Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, thúc đẩy mặt bằng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên thị trường ngân hàng hạ dần, tác động tích cực đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ sử dụng vốn vay cao là những ngành hưởng lợi nhiều nhất, thể hiện qua số liệu doanh nghiệp tham gia vào các ngành này như: Công nghiệp chế biến và chế tạo (thành lập mới tăng 4 quý liên tiếp), Xây dựng đã tăng 6% trong quý I/2014 so với cùng kỳ năm 2013, trong khi năm 2013 giảm 3,7% so với năm 2012.

Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm so với kế hoạch đã đề ra. Sự chậm trễ trong việc đi vào hoạt động của Công ty Quản lý và khai thác tài sản Việt Nam đã dẫn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị này trong năm 2013 là không rõ nét và vẫn chưa xử lý được vấn đề nợ xấu cũng như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như kỳ vọng đã đặt ra.

Ngành tài chính và ngân hàng vẫn thế hiện tình trạng khó khăn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng tới 58,6% trong năm 2013 so với năm 2012.

Trong Quý I năm 2014, tình hình của khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã có dấu hiệu cải thiện khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 18,9%, ngừng hoạt động, giải thể giảm 14,7%.

Một trong các giải pháp giải quyết hàng tồn kho bất động sản là gói tín dụng 30.000 tỷ hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản và người mua nhà tiếp cận nguồn tín dụng có lải suất thấp, ổn định.

Tuy nhiên, do tiến độ giải ngân của gói tín dụng này quá chậm nên chưa có nhiều tác động hỗ trợ đối với doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dừng hoạt động trong Quý I/ 2014 vẫn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013 (cả năm 2013 tăng 21,9% so với năm 2012)….

Cơ hội đan xen thách thức?

Cuối năm 2013, hầu hết các dự báo về tình hình kinh tế thế giới đều đánh giá tốc độ tăng trưởng năm 2014 sẽ khả quan hơn ở các lĩnh vực và các nền kinh tế. Tuy nhiên, tình hình chính trị bất ổn tại Ukraina và các điểm nóng khác trên thế giới đe dọa đến đà tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đầu năm 2014, đánh dấu lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ và các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Liên bang Nga do căng thăng chính trị tại Ukraina leo thang.

Mặc dù quy mô các biện pháp trừng phạt còn nhỏ, nhưng nếu các bên liên quan không tìm được tiếng nói chung có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa kinh tế mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi chung của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị ứng phó với những khó khăn nảy sinh khi các thị trường xuất khẩu của nước ta như EU, Mỹ, Nga gặp khó khăn.

Tình hình trong nước còn khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ ràng hơn do tình hình kinh tế trong nước đang dần ổn định, cũng như các chính sách kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phát huy tác dụng. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, năm 2014 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,67%-6,3%, chỉ số CPI tăng khoảng 7%-7,5%.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp có những cơ hội sau:

- Sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2014 là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất.

- Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài dự báo sẽ tăng đáng kể trong năm 2014, tạo động lực thúc đẩy đà hồi phục của doanh nghiệp, mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

- Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng do các Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định TPP được Việt Nam ký kết với các nước trên thế giới.

- Lãi suất ngân hàng ở mức hợp lý, giảm gánh nặng chi phí lãi vay của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cũng không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đó là:

- Với việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh chất lượng hàng hóa, quy mô sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước đối tác.

- Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được giải quyết mạnh mẽ, sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt, tiêu dùng nội địa còn yếu là những thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014.

Doanh nghiệp vẫn mong chờ những hỗ trợ

Trong năm 2014, Chính phủ cần tiếp tục các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt sử dụng hàm lượng chất xám, trình độ quản lý cao và giảm dần các ngành tiêu tốn nhiều vốn và lao động nhưng hiệu quả kinh tế thấp.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, trong thời gian tới, Chính phủ vẫn tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công khai, minh bách hóa chính sách, thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh, thông tin doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu.

 Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, cung ứng chuỗi; thu hút, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám; tạo điều kiện, môi trường, chính sách thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.

Đồng thời, đẩy nhanh quá trình giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; khắc phục những yếu kém, tồn tại của thị trường bất động sản như vấn đề hàng tồn kho bất động sản, tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dẫn nhằm củng cố lại niềm tin của người dân; hoàn thiện thị trường chứng khoán theo định hướng trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp.

Triệt để thực hiện lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cổ phần hóa tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

 Ban hành các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng của doanh nghiệp như tăng cường quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa, tình trạng cạnh tranh…

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về những cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong giai đoạn tới. Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: giải thể , quý I , thành lập , doanh nghiệp Việt Nam , nợ xấu , Đồng bằng sông Hồng , Đông Nam Bộ , hàng tồn kho Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai 24/02/2014 14:00

TS. Nguyễn Minh Phong

(Tài chính) Trong sự đa dạng, nhiều chiều của các ý kiến về cải cách khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) và doanh nghiệp nhà nước (DNNN), dường như có cách hiểu chưa chuẩn xác về các vấn đề liên quan đến KTNN và DNNN... Dưới đây xin nêu về 3 ngộ nhận về KTNN và DNNN, đồng thời nói rõ thêm về các vấn đề này.

Cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP. Nguồn: internet

Ngộ nhận 1: Đồng nhất về tên gọi, nội hàm và vai trò chủ đạo của KTNN với DNNN

Nhiều ý kiến chưa phân biệt tên gọi KTNN và DNNN, mà thường dùng chung và đánh đồng với nhau. Từ đó dẫn đến sự ngộ nhận lớn là đồng nhất vĩnh viễn, cứng nhắc vai trò chủ đạo đương nhiên của KTNN với vai trò tương tự của DNNN.

Hơn nữa, hiểu cứng nhắc khái niệm chủ đạo trong nền kinh tế trước và sau Đổi mới, kéo theo những tranh luận “vô tiên khoáng hậu” về cách hiểu này.

Trước hết, cần khẳng định về tên gọi, KTNN khác DNNN và nội hàm của KTNN rộng hơn và bao quát trong nó DNNN chỉ như một bộ phận.

Từ năm 1986 đến nay, nội hàm KTNN trong công tác thống kê đã được xây dựng và điều chỉnh nhiều lần tương ứng với từng giai đoạn cụ thể.

Giai đoạn từ 1986-1990: KTNN bao gồm các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, các công ty kinh doanh thương nghiệp, ăn uống, xí nghiệp vận tải, xây dựng và dịch vụ phục vụ đời sống... của Nhà nước.

Giai đoạn từ 1991-2000: Theo Quyết định số 147/QĐ-PPCĐ ngày 23/12/1992 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, KTNN bao gồm các DNNN và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu bằng NSNN. Trong đó, DNNN là các đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị xã hội sở hữu 100% vốn, được thành lập và hoạt động theo Luật DN Nhà nước.

DNNN được chia theo cấp quản lý: DNNN Trung ương và DNNN địa phương. Còn các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp dựa chủ yếu vào NSNN; bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công như nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá thể dục thể thao... Các đơn vị, tổ chức chính trị và chính trị xã hội như Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... Các tổ chức xã hội nghề nghiệp như: Hội Nhà văn, Hội Điện ảnh, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, Hội Nhà báo, Hội Nghệ sỹ Sân khấu, Hội Luật gia...

Giai đoạn từ 2001-2010, KTNN gồm: Các DNNN, DN của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật DNNN. Các công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu vốn là Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Các công ty cổ phần được cổ phần hoá từ DNNN hoặc một bộ phận của DNNN, đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần trở lên hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.

Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp: bao gồm các đơn vị kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực hành chính sự nghiệp mà kinh phí hoạt động dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước; các đơn vị này bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương (cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp); các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công đang hoạt động trong lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao...

Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, khi Luật DNNN bị xoá bỏ, các DNNN thực hiện chuyển đổi sang dạng DN hoạt động theo Luật DN, thì KTNN hiện bao gồm: Các DNNN 100% vốn Nhà nước đã chuyển đổi hình thức theo Luật DN và phần vốn và tài sản Nhà nước trong các DN khác đang hoạt động theo Luật DN.

Các quỹ và tài sản quốc gia khác (tài chính và phi tài chính) thuộc sở hữu Nhà nước và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước (các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công về nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao…, cũng như các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, công đoàn, Hội Cựu chiến binh..., và các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Liên minh hợp tác xã, Hội Nhà văn...

Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, DNNN được quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991). Theo Luật DNNN 2003, Điều 1. “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Sau khi Luật DN được ban hành năm 2005, thì DNNN được hiểu là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.

Theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN thì “DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên” .

Nghị định 99/2012/NĐ-CP còn khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào DN. Nhà nước chỉ đầu tư vốn, tài sản vào DN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để KTNN thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Với giá trị to lớn về tài sản vật chất và phi vật chất, có thể nói, vai trò chủ đạo của KTNN là đuơng nhiên, không thể phủ nhận và không thể thay thế bởi bất kỳ thành phần kinh tế phi Nhà nước nào khác. Hơn nữa, nếu trước Đổi mới, chỉ có thành phần KTNN là chủ yếu, nên DNNN cũng đồng thời có vai trò chủ đạo trong khu vực DN xã hội. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế đa thành phần và quá trình hội nhập, các DNNN sẽ ngày càng giảm dần vai trò chủ đạo theo nghĩa truyền thống. Đồng thời, vai trò chủ đạo của KTNN, do đó, của DNNN đang có sự biến đổi theo hướng, từ chủ đạo tuyệt đối về lượng, lĩnh vực kinh doanh, sang chỉ chủ đạo trong lĩnh vực mà tư nhân không thể, không muốn đảm nhiệm và nhà nước cần độc quyền.

Nói cách khác, DNNN ngày càng giảm dần vai trò của mình trong nền kinh tế vì lợi nhuận, ngày càng thu hẹp sự chủ đạo từ phạm vi toàn bộ nền kinh tế chỉ còn vào một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt. Đồng thời, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN trong thời gian tới cũng cần được nhấn mạnh vào các nội dung và mục tiêu: Nắm giữ các tài sản, tổ chức các hoạt động độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bao an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn  vốn ngoài ngân sách Nhà nước.

Ngộ nhận 2: Đồng nhất cơ chế quản lý DNNN giữa nhiệm vụ kinh doanh vị lợi nhuận với nhiệm vụ công ích

Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh tế của Nhà nước, và do đó của DNNN, luôn có 2 mục tiêu với 2 tính chất khác nhau, đó là mục tiêu kinh doanh thông thường như các DN khác, và mục tiêu công ích đặc trưng riêng có của mình.

Vì vậy, cần xác định rõ theo các hệ tiêu chí đồng bộ và khoa học về tính chất kinh doanh và tính chất công ích của DNNN; từ đó làm rõ cơ chế quản lý phù hợp đáp ứng mục tiêu kinh tế-xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

Đây cũng là điểm nút để giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán và đánh giá các hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các DN trong thực tiễn cả quản lý Nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN, khiến các DNNN không hoạt động hiệu quả như mong muốn và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.

Đồng thời, sự bình đẳng giữa các DNNN với các DN khác ngày càng được khẳng định theo Luật Doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh, hoặc theo Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư Công (đang được xây dựng), với yêu cầu ngày càng mở rộng sự tham gia của các DN khác vào thực hiện các hoạt động công ích được tài trợ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo nguyên tắc khuyến khích đấu thầu công khai và bình đẳng, giảm thiểu tình trạng khép kín, sự chi phối của lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ… như tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Đại hội XI đã chỉ rõ.

Ngộ nhận 3: Đồng nhất cải cách DNNN với làm suy yếu khu vực DNNN và KTNN

Dù có xu hướng ngày càng giảm thiểu, thu hẹp, song như kinh nghiệm thế giới chỉ ra, tái cơ cấu và đổi mới quản lý DNNN trong bối cảnh mới không phải là làm suy yếu và dần xóa bỏ triệt để các DN và khu vực kinh tế này mà là làm cho chúng ngày càng hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn và đóng góp nhiều hơn cho kinh tế quốc gia theo nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Tính đến tháng 8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 17 tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước quan trọng (Tổng công ty 91); đã phê duyệt 100/101 phương án sắp xếp, đổi mới DN của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2015. Số lượng DNNN đã giảm mạnh, đến đầu năm 2013 cả nước còn 1.284 DN 100% vốn Nhà nước. Hiện có gần 50% số địa phương không còn DNNN kinh doanh thuần túy. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào các công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước-tư nhân tăng mạnh. Năm 2012 cả nước có trên 1900 công ty cổ phần có cổ phần Nhà nước chiếm trên 50% tổng số cổ phần phổ thông phát hành tại thời điểm cổ phần hóa.

Tuy nhiên, khu vực DNNN vẫn đang chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư, 70% viện trợ phát triển chính thức và sử dụng 60% vốn vay từ các ngân hàng thương mại, chiếm khoảng 30% GDP hằng năm.

Trong triển vọng, có thể và cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP; đẩy nhanh hơn tốc độ cổ phần hóa và không nên để quá nhiều DNNN nắm cổ phần quá cao.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: kinh tế Nhà nước , doanh nghiệp nhà nước , Luật Doanh nghiệp nhà nước , cổ phần hóa , kinh tế thị trường , hội nhập quốc tế , vốn điều lệ , Luật Đấu thầu , Luật Đầu tư Công Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra

Thứ ba 25/02/2014 09:17

TS. BÙI TIẾN DŨNG - Bộ Khoa học và Công nghệ

(Tài chính) Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Việt Nam đang dành 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN. Nguồn: internet

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua...

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 - 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Xét về bản chất thì Dự án thử nghiệm là khâu cuối của chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ với nội dung chính là triển khai thực nghiệm, thử nghiệm ở quy mô nhỏ để hoàn thiện kết quả nghiên cứu (sản phẩm mới, công nghệ mới) được tạo ra trong phòng thí nghiệm trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. Trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm, các sản phẩm được tạo ra là các vật mẫu (prototype), quy trình sản xuất vật mẫu và tổ chức sản xuất thử loạt nhỏ - loạt “o” (zero) nhằm ổn định chất lượng của sản phẩm cũng như độ tin cậy của công nghệ đã được nghiên cứu và tạo ra trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, phần lớn sản phẩm của các Dự án sản xuất thử nghiệm chưa đi đến thương mại hóa và chưa thể mang lại hiệu quả sinh lợi bằng tiền ngay sau khi kết thúc. Trong thực tế, chỉ có doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định trong việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật của sản phẩm do doanh nghiệp thực hiện.

- Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học gồm: Loại hình các cơ quan nghiên cứu khoa học; Loại hình triển khai kỹ thuật; Loại hình nghiên cứu phúc lợi xã hội, cơ sở kỹ thuật và khoa học nông nghiệp.

- Phương thức chi ngân sách: Việc phân loại quản lý nguồn lực tài chính KH&CN, cơ chế chi ngân sách được thực hiện căn cứ vào loại hình hoạt động của các cơ quan nghiên cứu khoa học: Thứ nhất, chi phí cho các cơ quan nghiên cứu khoa học và kinh phí sự nghiệp KH&CN. Thứ hai, đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản, kinh phí nghiên cứu khoa học từng bước thực hiện theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn từ Quỹ phát triển KH&CN. Đối với các cơ quan nghiên cứu thuộc loại hình như sự nghiệp công ích, Nhà nước bao cấp một phần kinh phí nhất định…

Về nguyên tắc, Nhà nước không giảm bớt chi ngân sách cho kinh phí sự nghiệp KH&CN chung và tiếp tục tăng thêm hàng năm. Kinh phí sự nghiệp được giảm xuống vẫn sẽ dùng cho nghiên cứu khoa học, với phương thức vận hành ổn định và chi theo nhiệm vụ.

Đối với các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập, Dự án thử nghiệm là một khâu trong chu trình nghiên cứu khoa học - phát triển công nghệ nên hoạt động sản xuất thử nghiệm cũng mang đầy đủ các đặc tính của hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó có tính rủi ro. Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công ở quy mô nhỏ thông qua Dự án sản xuất thử nghiệm, cũng vẫn chịu những rủi ro (cả về công nghệ cũng như về thị trường) trong quá trình áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống, hoặc vẫn không thể áp dụng ngay vào quy mô lớn theo yêu cầu của sản xuất nếu không tiến hành đồng bộ các nghiên cứu khả thi về công nghệ, tài chính, thị trường, kinh tế, môi trường, xã hội...

Theo đánh giá của cơ quan quản lý KH&CN của các bộ ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Y tế…) thì ngoài yếu tố rủi ro, thu hồi kinh phí hỗ trợ thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm gây thêm áp lực đối với các nhà khoa học và các tổ chức KH&CN công lập, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Áp lực thu hồi kinh phí cùng với yếu tố rủi ro trong nghiên cứu được xem là nguyên nhân chính của số lượng hạn chế các dự án sản xuất thử nghiệm, đồng nghĩa với tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống còn thấp trong thời gian qua.

Bộ KH&CN đã trình và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý không thu hồi kinh phí đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ (Quyết định số 62/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó, liên Bộ Tài chính - KH&CN đã ban hành Thông tư 22/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 21/2/2011 hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được NSNN hỗ trợ kinh phí.

Thứ hai, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN” có nội dung “Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN”. Thực hiện Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015”, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”. Ngày 17/02/2012, Đề án này đã được Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình 315/TTr-BKHCN. Đổi mới quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là nhóm giải pháp để thực hiện đổi mới được nêu trong Đề án với những định hướng đổi mới sau:

Về mức đầu tư: Duy trì mức chi tối thiểu 2% tổng chi NSNN hàng năm cho hoạt động KH&CN, phấn đấu đạt 2,2% từ năm 2015; Huy động các nguồn vốn ngoài NSNN (sửa Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được trích tối thiểu 10% lợi nhuận chịu thuế để thành lập Quỹ KH&CN của doanh nghiệp hoặc đưa vào Quỹ Phát triển KH&CN của địa phương).

Xây dựng cơ chế để khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải phân tán nguồn NSNN đầu tư cho KH&CN, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả đầu tư: Xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí và quy trình phân bổ kinh phí ngân sách đầu tư cho KH&CN (đặc biệt lưu ý vai trò, quyền hạn của 3 Bộ quản lý tổng hợp liên quan trong xây dựng dự toán, quyết định phương án phân bổ); Xây dựng cơ chế có thể điều tiết ngân sách KH&CN đã phân bổ phù hợp với nhu cầu, năng lực và tình hình thực tế sử dụng ngân sách; Đổi mới quy trình, thủ tục lập kế hoạch ngân sách KH&CN hàng năm (thời điểm phê duyệt nhiệm vụ KH&CN linh hoạt); Xây dựng lộ trình tăng dần tỷ trọng vốn ngân sách sự nghiệp khoa học thông qua các quỹ như Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia.

Đổi mới quy định về dự toán và sử dụng ngân sách KH&CN theo hướng: Xây dựng định mức và quy định bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên của các tổ chức KH&CN công lập trong dự toán các nhiệm vụ KH&CN và nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng; Hoàn thiện cơ chế khoán kinh phí (khoán theo sản phẩm cuối cùng); Đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán; Điều chỉnh và bổ sung các nội dung chi cũng như định mức kinh phí theo từng nội dung chi của nhiệm vụ KH&CN (mua sắm trang thiết bị, mua quyền sở hữu trí tuệ, mua thiết kế, bí quyết công nghệ, phần mềm, thuê chuyên gia, truyền thông, kinh phí dự phòng...); Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi bổ sung Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn và một số văn bản pháp quy liên quan đến công tác tài chính KH&CN.

Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN

Thứ nhất, nâng cấp cơ sở pháp lý về cơ chế tài chính cho KH&CN. Tiếp tục hoàn thiện Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, Đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN”, đổi mới triệt để các quy định hiện hành về dự toán và sử dụng kinh phí NSNN thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Triệt để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm bằng giao theo nhiệm vụ. Loại bỏ tư tưởng duy trì cơ chế hành chính kiểu “xin - cho” trong các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ hai, cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ nghiên cứu và phát triển (R&D). Ở Việt Nam, đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập thường vay vốn để nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các tổ chức tài chính là không dễ dàng vì các khoản vay này luôn bị các tổ chức tài chính coi là có tính rủi ro cao, do các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập dễ tổn thương trước các biến động từ thị trường và nền kinh tế. Vì vậy, để hỗ trợ đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ quốc gia cần đưa vào vận hành cơ chế cấp bảo lãnh cho các khoản vay phục vụ R&D. Cơ chế này cần có một quy trình xét duyệt bảo lãnh đòi hỏi linh hoạt, nhưng không được thiếu tính chính xác, chặt chẽ và được kiểm toán đầy đủ. Nếu không thì việc duyệt bảo lãnh biến thành cơ chế xin cho tùy hứng, tạo cơ hội cho tham nhũng phát sinh.

Ngược lại, nếu cơ quan duyệt bảo lãnh vì sợ trách nhiệm mà làm việc quá chặt tay, thì các dự án đầu tư R&D – dù có triển vọng tốt nhưng trong bản chất tự thân đã có tính mạo hiểm, sẽ không được bảo lãnh, và không huy động được nguồn vốn cần thiết. Hiện nay, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia là phù hợp nhất. Khoản bảo lãnh này có nhiều hình thức, nhưng mục tiêu chung là đảm bảo các tổ chức cho vay thu hồi khoản nợ trong trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toán. Nhờ vậy, khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay đối với các đơn vị sự nghiệp có dự án triển vọng tốt song không có đủ tài sản thế chấp, hoặc không có hồ sơ tín dụng đầy đặn phù hợp để chứng minh uy tín trả nợ.

Thứ ba, hỗ trợ kinh phí rút ngắn khoảng cách tụt hậu về KH&CN. Trong xu thế phát triển KH&CN hiện nay, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí để các tổ chức KH&CN có thể tiến hành khắc phục khoảng cách tụt hậu về KH&CN qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về sử dụng kết quả KH&CN; Giai đoạn 2: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ; Giai đoạn 3: Rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nghiên cứu cơ bản.

Để rút ngắn khoảng cách về nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, trước hết phải phát triển năng lực nghiên cứu ứng dụng của quốc gia, tăng cường tham gia mạng lưới nghiên cứu ứng dụng quốc tế. Cần hình thành một đội ngũ nhân lực KH&CN đủ mạnh và tương ứng là hệ thống tổ chức R&D, hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu, nguồn vốn đầu tư nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ mới, chiến lược phát triển quốc gia về R&D. Rõ ràng, rút ngắn khoảng cách ở đây khó hơn và khác hẳn việc rút ngắn tụt hậu về ứng dụng kết quả KH&CN. Để khắc phục tình trạng kết quả nghiên cứu bị giữ kín như là bí quyết cạnh tranh, viện nghiên cứu ở nước ta phải có những nghiên cứu khoa học đủ sức “giải mã” phần công nghệ ẩn giấu trong hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường.

Như vậy, có ba điểm mấu chốt trong cơ chế tài chính khi tài trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập từ nguồn ngân sách cần quan tâm đó là: Có sự độc lập tự chủ cao hơn về tài chính; Các quy trình thủ tục thể hiện một sự linh hoạt và lắng nghe cao hơn đối với các tác giả đề cương nghiên cứu, từ việc cân nhắc lựa chọn thành viên hội đồng thẩm định tới việc đàm phán tài chính cho nhiệm vụ; Nhà nước rất quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, không chỉ trong phạm vi chuyên ngành mà liên ngành và không chỉ trong cộng đồng khoa học mà cả cộng đồng xã hội, kể cả với các dự án nghiên cứu cơ bản.

Đối với Việt Nam, khi xem xét cơ chế tài chính cho các nhiệm vụ KH&CN, cần chú ý đến kết quả đầu ra và quan tâm tới tác động lan tỏa của đề tài nghiên cứu, kể cả với các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản. Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN cần phải theo phương châm “thà ít mà tốt”. Chỉ có như vậy thì chính sách đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KH&CN mới thực sự hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Các văn bản pháp quy và hướng dẫn hiện hành về tài chính cho KH&CN và một số hướng dẫn khác có liên quan;

2. Trang website http://www.nafosted.gov.vn.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2014

Từ khóa: khoa học công nghệ , cơ chế , nghiên cứu khoa học , nghiên cứu phát triển , tài chính , bảo lãnh , Bộ Khoa Học Và Công Nghệ , thông tư Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Thứ năm 13/02/2014 09:07

(Tài chính) Từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Các DN vừa và nhỏ này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật. Nguồn: internet

Tại Đại hội câu lạc bộ Pháp chế DN nhiệm kỳ III mới đây, ThS. Đặng Thị Tuyết, Trưởng ban pháp chế Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam cho biết, Công ty mẹ có bộ phận pháp chế độc lập và toàn bộ tập đoàn có hơn 100 cán bộ pháp chế. Hiện tập đoàn này có 60 công ty con và 22 đơn vị hạch toán phụ thuộc trong công ty mẹ. Do đó công tác pháp chế có vai trò quan trọng để đảm bảo hoạt động thông suốt và an toàn của tập đoàn. Tập đoàn đã triển khai đồng bộ công tác pháp chế từ công ty mẹ xuống công ty con...

Quan trọng nhất là bộ phận pháp chế đã tư vấn cho lãnh đạo DN phòng ngừa rủi ro pháp lý đối với các giao dịch, thẩm định, tư vấn đối với dự thảo hợp đồng hoặc trực tiếp tham gia đàm phán.

Một đơn vị khác là liên doanh dầu khí Vietsovpetro, đơn vị này có tới 7.000 lao động và có bộ phận pháp chế độc lập từ 30 năm nay. Luật sư Trần Văn Bình, Trưởng phòng Luật Vietsovpetro chia sẻ, đối với xí nghiệp nhỏ, có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật hoặc văn phòng luật nhưng với DN lớn thì cần có bộ phận pháp chế riêng biệt, có như vậy mới đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động của DN. Bộ phận này không chỉ thẩm định hợp đồng, xử lý khiếu nại, tranh chấp… mà còn tham gia nhiều mặt hoạt động như đảm bảo DN thực thi đúng pháp luật, không để xảy ra rủi ro, ban hành các văn bản quản lý nội bộ DN, công tác quản lý vật tư, tài sản…

Tuy nhiên, ThS. Đặng Thị Tuyết cũng cho rằng, công tác pháp chế nội bộ DN vẫn còn nhiều hạn chế như trình độ của cán bộ, dù là được đào tạo chuyên ngành luật, song phần đông là thuyên chuyển từ công tác khác sang.

Hơn nữa, nhiều DN gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin pháp luật, trong khi hệ thống pháp luật trong quá trình làm luật và sửa đổi quy định pháp luật liên tục có sự thay đổi dẫn đến DN khó cập nhật kiến thức pháp luật kịp thời, chuẩn xác.

Với DN vừa và nhỏ, công tác pháp chế còn nhiều hạn chế hơn khi các DN này chủ yếu thành lập từ năm 2000 trở lại đây trong thời kỳ mà Nhà nước ban hành rất nhiều văn bản pháp luật cho kịp với thông lệ WTO. Luật gia Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam cho biết, khu vực này sử dụng 60% lao động và mỗi năm tăng thêm nửa triệu lao động... nhưng nhận thức pháp luật trong khối DN này còn nhiều mờ nhạt và là vấn đề đáng phải quan tâm như sự hiểu biết pháp luật quản trị DN còn yếu, nhân sự pháp chế thiếu.

Không chỉ thế, từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm DN này trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Ở góc độ khác, ông Đinh Việt Thanh, Pháp chế Tổng Công ty May 10 – Công ty cổ phần nhận xét, hiện nay DN bị điều chỉnh bởi rất nhiều luật, có luật chỉ mới áp dụng vài năm đã không phù hợp thực tế. Đặc điểm này là do tiếng nói DN trong quá trình tham gia xây dựng luật còn hạn chế, đặc biệt là các hiệp hội ngành nghề chưa có tiếng nói trọng lượng trên diễn đàn xây dựng luật. Thực tế, DN gặp nhiều vướng mắc trong thực thi luật mà phổ biến nhất là mỗi tỉnh vận dụng một kiểu. Những vấn đề này cần phải được đúc kết để tham gia xây dựng pháp luật.

Từ thực tế trên, luật gia Tô Hoài Nam đề xuất: câu lạc bộ Pháp chế DN cần phối hợp chặt chẽ hơn với các hiệp hội trong đó có Hiệp hội DN vừa và nhỏ để ghi nhận những phản ánh của DN, từ đó góp ý công tác xây dựng chính sách, pháp luật để pháp luật đáp ứng thực tiễn hoạt động kinh doanh.

Theo thoibaonganhang.vn

Từ khóa: pháp chế , Vietsovpetro , doanh nghiệp vừa và nhỏ , công ty mẹ , pháp lý , lao động , hiệp hội , công ty con , doanh nghiệp Các tin đã đưa Lãng phí có nghiêm trọng hơn tham nhũng? Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi" Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên Đại gia phạm luật: Ai dám xử? Sở hữu chéo, gỡ được đến đâu? Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ Đằng sau chuyện vượt rào sở hữu cổ phần ngân hàng Đại lý bảo hiểm - “lỗ hổng” của doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi"

Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi"

Thứ ba 18/02/2014 09:01

(Tài chính) Những quy định mới về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong dự thảo Luật DN sửa đổi vừa được ban hành được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng “làm ăn bát nháo” và lấp lỗ hổng trong quản lý đối với DNNN.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Nhiều năm qua, vấn nạn DNNN “làm ăn bát nháo” gây thâm thụt ngân sách, bức xúc dư luận đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” đối với đại đa số người dân.

Bằng chứng là việc hàng loạt các đại án tham nhũng đã được đưa ra xét xử trong thời gian gần đây với những con số hàng trăm nghìn tỷ đồng thất thoát gây rúng động dư luận như: Vinashin, Vinalines…

Thậm chí, tại một buổi gặp mặt quan trọng với Thủ tướng Chính phủ trong năm 2013, thay vì việc báo cáo thành tích đạt được, các “ông lớn” nhà nước lại đua nhau “than nghèo, kể khổ” với tổng số nợ lên tới con số hơn 1,3 triệu tỷ đồng.

Trong khi đó, hầu hết các DN này đều được coi là những đầu tàu, là bệ đỡ của nền kinh tế với khá nhiều những “đặc ân” được Nhà nước “ban phát” trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Thực tế trên đã làm cho bất kỳ ai quan tâm đến kinh tế Việt Nam đều không khỏi tỏ ra lo ngại.

Phát biểu tại Diễn đàn DN Việt Nam 2013 (VBF 2013) hồi tháng 12/2013 vừa qua, ông Preben Hjortlund, Chủ tịch EuroCham, cảnh báo: Thực tế sẽ không ai quan ngại nếu các DNNN không được ưu đãi nhiều hơn thông qua các khoản vay, khả năng tiếp cận đất đai, chỉ tiêu lợi nhuận thấp...

Đây chính là vấn đề kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế do làm giảm đầu tư tư nhân. Nếu Việt Nam không cải cách DNNN, nguồn vốn FDI vào sẽ bị hạn chế.

Để khắc phục tình trạng trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố dự thảo Luật DN sửa đổi (Dự luật) để lấy ý kiến góp ý, hoàn thiện trình Chính phủ phê duyệt.

Một trong những điểm đáng chú ý trong Dự luật lần này chính là việc bổ sung thêm hẳn một chương mới về DNNN đặc biệt là “Nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN”.

Theo đó, Dự luật quy định: DNNN được thành lập và chỉ tập trung hoạt động trong các ngành, nghề chính gồm: công nghiệp quốc phòng; các ngành công nghiệp độc quyền tự nhiên; các ngành, lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu; một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn…

Để tránh vướng phải những hệ lụy xấu từ việc làm ăn thua lỗ của các tập đoàn, tổng công ty như vừa qua, Dự luật đã đưa ra một điều kiện quan trọng đó là: DNNN phải hoạt động kinh doanh đầy đủ theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các DN khác.

Đặc biệt, DNNN phải đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại DN.

Theo định kỳ, DNNN phải có đánh giá và báo cáo về hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại DN theo nguyên tắc: Vốn nhà nước tại DN được bảo toàn và phát triển khi giá trị thực tế vốn đầu tư đó tăng thêm hoặc tỷ suất lợi nhuận của nó trong kỳ báo cáo ít nhất bằng lãi suất bình quân trái phiếu chính phủ ở thị trường trong nước ở cùng thời điểm.

Mặt khác, một điểm đặc biệt quan trọng khiến dư luận rất chú ý là Dự luật đã có quy định rõ về quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ đối với chủ sở hữu nhà nước trong các DNNN.

Theo đó, tại điều 172 của Dự luật, quy định: Các cơ quan nhà nước không được can thiệp và áp đặt mệnh lệnh hành chính vào hoạt động kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của DN; Chính phủ không được ban hành các quy định tạo lợi thế hoặc đặc quyền riêng cho DNNN.

Điều này đảm bảo cho việc sẽ tách bạch quyền chủ sở hữu vốn nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của các DN trên cơ sở Chính phủ sẽ thành lập một cơ quan chủ sở hữu chuyên trách và độc lập với cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Khác với những quy định hiện hành, theo Dự luật mới, cơ quan chủ sở hữu sẽ là người quyết định mục tiêu, ngành nghề kinh doanh của các DNNN tránh tình trạng ôm đồm, đầu tư tràn lan kém hiệu quả như hiện nay.

Đặc biệt, cơ quan chủ sở hữu sẽ quyết định cơ cấu tổ chức quản lý; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thành viên hội đồng thành viên, kiểm soát viên của công ty và những cán bộ quản lý khác; quyết định khen thưởng, kỷ luật và mức thù lao, tiền lương và lợi ích khác.

Bên cạnh đó, cơ quan này cũng quyết định các dự án đầu tư theo quy định của pháp luật. Tổ chức giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của công ty, hội đồng thành viên và Ban kiểm soát.

Chia sẻ với báo giới, TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM), đánh giá: Đó là những nội dung mới nhằm tách bạch quyền chủ sở hữu khỏi cơ quan quản lý nhà nước tồn tại từ trước đến nay. 

Bởi lẽ, hiện tại các bộ, ngành, tỉnh vừa là đại diện chủ sở hữu vừa là cơ quan quản lý nhà nước, tức là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” làm cho quản lý nhà nước thiếu nghiêm minh, thiếu chặt chẽ và kém hiệu quả. Vì vậy, theo tôi, nội dung này rất cần được quan tâm thảo luận để trình Quốc hội xem xét và thông qua.

Trong khi đó, TS. Nguyễn Đình Cung, quyền Viện trưởng CIEM, một trong những người chắp bút cho dự luật, cho biết nội dung mới nhằm vào những mục tiêu quan trọng như: Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho cộng đồng DN không phân biệt thành phần, hình thức sở hữu nhà nước hay tư nhân...

"Đây là bước chuẩn bị quan trọng tạo động lực mới cho các DN sẵn sàng hội nhập sâu rộng khi hàng loạt hiệp định kinh tế, thương mại…, sẽ được ký kết trong thời gian tới", ông Cung nói.

Theo bizlive.vn

Từ khóa: doanh nghiệp nhà nước , Luật Doanh nghiệp , thâm thụt ngân sách , kinh doanh , vốn nhà nước , lợi nhuận , chủ sở hữu , cạnh tranh Các tin đã đưa Lãng phí có nghiêm trọng hơn tham nhũng? Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi" Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên Đại gia phạm luật: Ai dám xử? Sở hữu chéo, gỡ được đến đâu? Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ Đằng sau chuyện vượt rào sở hữu cổ phần ngân hàng Đại lý bảo hiểm - “lỗ hổng” của doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS