Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Thứ sáu 28/03/2014 14:10

(Tài chính) Chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật về doanh nghiệp và chứng khoán mà thời gian qua, không ít công ty đại chúng đã bị xử phạt vì những lỗi không đáng có. Hậu quả là không chỉ bị giảm sút uy tín mà doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động như hiện nay.

TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Nguồn: internet

Chưa bị phạt là may!

Đến nay, vẫn còn không ít doanh nghiệp đủ điều kiện là công ty đại chúng nhưng chưa đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Trong khi đó, cũng có không ít công ty đại chúng, kể cả những công ty đang có cổ phiếu giao dịch trên sàn UPCoM không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, hoặc có thực hiện nhưng nửa vời, ví dụ báo cáo tài chính không có thuyết minh, các báo cáo không được lưu trữ đầy đủ trên website của công ty…

Trong nhiều trường hợp, việc vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin là do doanh nghiệp cố tình che giấu thông tin. Nhưng cũng có không ít trường hợp lại bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật, để rồi bị xử phạt vì những lỗi rất sơ đẳng. Cứ xem các quyết định xử phạt của UBCKNN gần đây sẽ thấy, một loạt doanh nghiệp mắc phải lỗi không công bố các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị công ty… đầy đủ và kịp thời.

Pháp luật quy định, công ty đại chúng phải có website để thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và website phải thiết kế một mục dành riêng cho cổ đông hay quan hệ nhà đầu tư. Vậy mà, vẫn có doanh nghiệp bị xử phạt vì website không có chuyên mục này.

Tại Hội nghị “Doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết 2014” do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) phối hợp với UBCKNN tổ chức hôm 26/3 vừa qua tại TP. HCM, nhiều doanh nghiệp đã đặt câu hỏi với đại diện cơ quan quản lý thị trường, để lộ nhiều “lỗ hổng” về kiến thức pháp luật cơ bản đối với doanh nghiệp, mà với những “lỗ hổng” ấy, doanh nghiệp chưa bị phạt… là may!

Đại diện một doanh nghiệp thuỷ điện có 99% vốn Nhà nước, 1% vốn góp của cán bộ nhân viên đã đặt câu hỏi: “Luật pháp quy định, công ty đại chúng buộc phải đăng ký lưu ký tập trung, nhưng chúng tôi thấy làm như thế phiền phức và tốn kém. Hơn nữa, chúng tôi đang tự quản lý cổ đông rất tốt. Chúng tôi không đăng ký công ty đại chúng có được không?”.

Một loạt câu hỏi tương tự cũng được đặt ra, như công ty đang thuê công ty chứng khoán (CTCK) quản lý sổ cổ đông có vi phạm luật không? Quy định hiện hành có bắt buộc công ty đại chúng phải niêm yết, đăng ký giao dịch trên UPCoM không? Công ty có vốn 16 tỷ đồng có bắt buộc phải đăng ký chứng khoán và đăng ký giao dịch không?

Trước những câu hỏi như thế, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN đã thốt lên: “Những câu hỏi mà đại diện các doanh nghiệp đưa ra cho thấy, các doanh nghiệp nắm chưa vững cả Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật về chứng khoán. Vì thế, các doanh nghiệp vi phạm dẫn đến bị xử phạt cũng là lẽ đương nhiên”.

Theo quy định, doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có ít nhất 100 cổ đông thì được xem là công ty đại chúng và đã là công ty đại chúng thì phải đăng ký lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD). Nếu công ty đại chúng thuê CTCK quản lý cổ đông thì cả hai đều sai.

Về quy định tại Luật Doanh nghiệp, có người hỏi: “Cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phiếu trong vòng 5 năm, nếu đại  hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua có phạm luật không?”. Rõ ràng, người hỏi đã không nắm được quy định tại Luật Doanh nghiệp về thời gian hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập là 3 năm, chứ không phải 5 năm.

Ngoài ra, pháp luật quy định việc hạn chế chuyển nhượng, chứ không phải không được chuyển nhượng, bởi trong thời hạn đó, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận.

Trước câu hỏi “Điều lệ công ty cổ phần quy định cổ đông phải nắm giữ một tỷ lệ nhất định mới được tham dự ĐHĐCĐ có vi phạm Luật Doanh nghiệp không?”, ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCKNN giải thích điều này chắc chắn vi phạm.

“Tôi không nghĩ đến giờ này vẫn còn băn khoăn như vậy, bởi nó đã diễn ra cách đây khoảng 4 - 5 năm và trên nhiều phương tiện truyền thông đã nói rất rõ về việc quy định như vậy là trái với Luật Doanh nghiệp”, ông Hải nói.

Lỡ cơ hội vì thiếu hiểu biết

Trước ý kiến lo ngại về việc trong khi có nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật thì vẫn còn một số khác chưa tuân thủ pháp luật sẽ gây nên tình trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, bà Vũ Thị Chân Phương, Vụ Trưởng Vụ Thanh tra, UBCKNN đã khuyến cáo, doanh nghiệp nếu làm sai sẽ dẫn đến bị khiếu kiện, khiếu nại hoặc bị xử phạt, tự đánh mất uy tín của mình.

“Doanh nghiệp đã đủ điều kiện thành công ty đại chúng, nhưng không đăng ký với UBCKNN, từ đó không công bố thông tin định kỳ, không báo cáo, không có website… Đến khi UBCKNN phát hiện thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt cho một loạt các vi phạm đó. Số tiền phạt sẽ là tổng mức phạt cho tất cả các hành vi vi phạm này”, bà Phương cho biết.

Còn theo ông Bùi Hoàng Hải, không có UBCKNN nước nào có đủ năng lực kiểm soát tất cả. “Vừa qua, chúng tôi đã nghiên cứu TTCK Mỹ và thấy rằng, tốt nhất là UBCKNN tập trung xử lý sau khi các vi phạm được phát hiện, chủ yếu là từ các khiếu nại của cổ đông, nhà đầu tư. UBCKNN Việt Nam cũng chỉ có thể xử lý được những doanh nghiệp có đăng ký công ty đại chúng. Nếu công ty đã trở thành đại chúng rồi mà không đăng ký công ty đại chúng thì người giám sát tốt nhất lúc này chính là các cổ đông. Cách mà UBCKNN đang thực hiện là tăng cường phổ biến kiến thức, giúp các cổ đông có thể tự kiểm soát và bảo vệ quyền lợi của mình”, ông Hải nói.

Ông Hải cho biết, nhiều doanh nghiệp trước đây muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn, nhưng chưa làm được, do thị trường không thuận lợi, thì nay khi TTCK khởi sắc hơn đã bắt đầu nộp hồ sơ xin phép chào bán trở lại. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ phải mất 6 tháng mới được cấp phép do dính những lỗi nhỏ, chẳng hạn như nghị quyết ĐHĐCĐ không được hiện đúng luật, không ghi rõ phương án phát hành, thiếu phương án sử dụng vốn, điều lệ có quy định trái với Luật Doanh nghiệp…

“TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch chào bán chứng khoán trở lại. Nhưng nếu doanh nghiệp phải chờ tới 6 tháng nữa hồ sơ phát hành mới được thông qua thì cơ hội tốt nhất sẽ trôi qua. Vì thế, doanh nghiệp nào có ý định chào bán cổ phiếu thì nên làm việc với CTCK tư vấn để chuẩn bị chu đáo mọi hồ sơ ngay từ đầu, tránh trường hợp hồ sơ bị kéo dài quá lâu”, ông Hải khuyến cáo.            

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp đại chúng , doanh nghiệp đại chúng , sử dụng vốn , vốn điều lệ , công ty chứng khoán , cổ đông , Luật Doanh nghiệp , chào bán cổ phiếu Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu

Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu

Thứ sáu 28/03/2014 16:14

(Tài chính) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phản bác thông tin cho rằng, việc hoãn Thông tư 02 là giúp ngân hàng thương mại đắc lợi, làm chậm quá trình tái cơ cấu.

NHNN khẳng định có đủ công cụ để kiểm soát nợ xấu. Nguồn: internet

Trước thông tin cho rằng, việc ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN (thay thế Thông tư 02/2013/TT-NHNN) về phân loại nợ nợ và trích lập dự phòng rủi ro là giúp ngân hàng che giấu nợ xấu, làm chậm quá trình tái cơ cấu ngân hàng, NHNN đã lên tiếng phản bác.  

NHNN hoãn: ngân hàng mừng, chuyên gia lo lắng

Ngày 18/3 vừa qua, NHNN ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 Quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Một trong những nội dung cơ bản được sửa đổi, bổ sung là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ từ ngày 20/3/2014 đến hết ngày 31/3/2015 và chưa phải thực hiện điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo kết quả tổng hợp phân loại nợ của CIC cho đến hết ngày 31/12/2014.

Phó Chủ tịch Ngân hàng thương mại Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) Nguyễn Đức Hưởng cho rằng, giãn thời gian áp dụng Thông tư 02 về phân loại nợ theo chuẩn mới chính là giúp doanh nghiệp (DN) khỏi sự đổ bể mới, cứu nền kinh tế.

Tuy nhiên, việc thêm một lần trì hoãn thực hiện Thông tư 02 của NHNN lại khiến các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong nước lo ngại, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tiếp tục bị che dấu, làm chậm quá trình tái cơ cấu ngân hàng.

Chuyên gia ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, trì hoãn quá lâu Thông tư 02 sẽ khiến bức tranh nợ xấu bị che mờ, khiến trích lập dự phòng rủi ro không đầy đủ, đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng.

Báo cáo của Công ty chứng khoán Bảo Việt mới đây cũng cho rằng, việc NHNN ban hành Thông tư 09, thay thế Thông tư 02 đã làm niềm tin thị trường bị tổng thương và làm quá trình tái cơ cấu ngân hàng bị chậm lại.

Không có chuyện ngân hàng giấu nợ

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, trong lúc các ngân hàng kinh doanh chật vật như hiện nay, việc tăng trích lập dự phòng rủi ro sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Vì vậy, lùi thực hiện Thông tư 02 "đúng là ân huệ cho ngành ngân hàng". Đây cũng là quan điểm của rất nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế.

Tuy vậy, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (NHNN) khẳng định, để được giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 09, các ngân hàng phải đáp ứng được những điều kiện vô cùng chặt chẽ và không dễ để "lách" hay che dấu nợ.

Cụ thể, Thông tư 09 quy định, để được giữ nguyên nhóm nợ, phải là những khoản nợ mà việc cấp tín dụng không vi phạm các quy định của pháp luật; phù hợp với mục đích của dự án vay vốn trong hợp đồng tín dụng; khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích; khách hàng có phương án trả nợ mới khả thi, phù hợp với diều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ chỉ được thực hiện 01 lần...

Đồng thời, Thông tư 09 yêu cầu tổ chức tín dụng phải đảm bảo đã ban hành quy định nội bộ để kiểm soát, giám sát đối với nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, đảm bảo kiểm tra, giám sát chặt chẽ, an toàn, phòng ngừa và ngăn chặn việc lợi dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ để phản ánh sai lệch chất lượng tín dụng.  

Như vậy, so với quy định tại Quyết định số 780/QĐ-NHNN về phân loại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (NHNN) khẳng định, các điều kiện quy định tại Thông tư 09 trên đây được nhiều tổ chức tín dụng đánh giá là quá chặt chẽ, không còn ”cửa hẹp để lách” và từ đó, trong thời gian ngắn sắp tới sẽ nợ xấu được phản ánh đầy đủ, đúng thực trạng.

Tuy nhiên, tổ chức tín dụng có thể chưa phải trích ngay số tiền dự phòng rủi ro cho những khoản nợ được cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, sẽ có thêm điều kiện về nguồn vốn để cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh. Tuy vậy, thời gian tới, chắc chắn các tổ chức tín dụng sẽ phải trích bổ sung dự phòng rủi ro và phải hạch toán vào chi phí hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành.

Không làm chậm quá trình tái cơ cấu

Việc NHNN sửa đổi Thông tư 02 khiến nhiều người cho rằng, lộ trình tái cơ cấu ngân hàng của NHNN sẽ bị chậm lại.

Tuy nhiên, lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng thương mại cổ phần lớn cho rằng:  “Thông tư 09 của Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn phù hợp với điều kiện hiện nay của nền kinh tế, không hề làm chậm mà thậm chí còn tạo nên sức ép phải đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại ngân hàng”.    

Trong khi đó, Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng khẳng định, tuy sửa đổi Thông tư 02, song NHNN vẫn yêu cầu các ngân hàng thương mại phải rà soát, đánh giá chất lượng tín dụng, tình hình nợ xấu theo tiêu chí quy định tại Thông tư 02 để xây dựng, báo cáo NHNN kế hoạch bán nợ xấu trong năm 2014 và kế hoạch bán nợ xấu cụ thể từng tháng cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

NHNN sẽ áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật đối với tổ chức tín dụng không xây dựng, báo cáo NHNN kế hoạch bán nợ xấu cho VAMC hoặc không bán, chậm bán nợ xấu theo kế hoạch đã báo cáo NHNN. 

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục thực hiện công tác hoàn thiện thể chế, trong đó có việc ban hành Thông tư thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2013 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NHNNg.

Theo đó, NHNN bổ sung quy định về việc xử lý đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh NHNNg có giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp giảm thấp hơn mức vốn pháp định và một trong các chế tài xử lý là yêu cầu cổ đông, chủ sở hữu phải góp bổ sung vốn, hạn chế một số hoạt động hoặc hạn chế việc mở rộng địa bàn hoạt động (mở chi nhánh),…

Các ngân hàng có vốn điều lệ hoặc được cấp giảm thấp hơn mức vốn pháp định dẫn đến vi phạm các tỷ lệ bảo đảm an toàn thì sẽ bị xử lý theo đúng quy định pháp luật đối với từng trường hợp cụ thể.

 Với các giải pháp đồng bộ nêu trên, NHNN khẳng định đã có đủ công cụ, biện pháp và đã hoàn toàn kiểm soát được chất lượng tín dụng, nợ xấu của từng tổ chức tín dụng và của cả hệ thống. Cùng với sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành liên quan, tiến độ xử lý nợ xấu, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng chắc chắn sẽ được thực hiện đúng tiến độ, hiệu quả.

Theo baodautu.vn

Từ khóa: thông tư , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , nợ xấu , tái cơ cấu , ngân hàng , tổ chức tín dụng , chi nhánh , tín dụng Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Không ai không thể thay thế

Xử lý lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước chần chừ cổ phần hóa:

Không ai không thể thay thế

Thứ hai 24/02/2014 14:11

(Tài chính) Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đừng nghĩ rằng mình là người không thể thay thế được bởi không ai không thể thay thế. Những nơi nào còn tư duy không muốn tái cơ cấu nên tránh ra để người khác làm.

Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đừng nghĩ rằng mình là người không thể thay thế được bởi không ai không thể thay thế. Nguồn: internet

Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Viết Muôn, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp khẳng định như vậy.

200.000 tỷ đồng vốn hóa đưa ra thị trường

Phóng  viên: Sau Hội nghị tái cơ cấu DNNN, các bước triển khai tiếp theo là gì, thưa ông?

Ông Phạm Viết Muôn: Hội nghị đã tạo ra bước khởi đầu cho giai đoạn 2014-2015. Nhưng công bằng mà nói đây chỉ là sự kế tiếp của những năm trước, giai đoạn trước 2010 trở về trước (2001-2010) chúng ta làm rất tốt. Tính từ năm 2001 tới 2010, trung bình mỗi năm chúng ta cổ phần hóa (CPH) 400 DN. Có lúc cao điểm 2004- 2005 cổ phần hóa được 700- 800 DN mỗi năm.

Bây giờ số lượng còn lại phải CPH là 432 DN. Tuy nhiều nhưng so với số DN đã được cổ phần, cũng không lớn lắm. 432 DN này thuộc 100 đầu mối.

Tới đây, hằng tháng chúng tôi sẽ giao ban, trong đó chú trọng những nơi có kết quả kém để giải quyết những vướng mắc tại nơi đó. Theo tôi không gì là không giải quyết được.

Điều quan trọng nữa là thị trường. Với số lượng 432 DN sẽ CPH, tổng số vốn giá trị cổ phần đưa ra thị trường khoảng 200.000 tỷ đồng. Việc CPH nhanh hay chậm nhiều khi còn phụ thuộc vào các nhà đầu tư. Ví như ta có đàn gà 10 con, đem ra chợ nhưng người ta chỉ mua 2 con, vì thế phải mang về 8 con tiếp tục nuôi.

Hiện cơ chế chính sách, hành lang pháp lý cơ bản hoàn thiện. Nhưng một số chuyên gia cho rằng động lực tự đổi mới không có vì lãnh đạo DNNN quen cách làm việc cũ, không muốn CPH vì đụng đến quyền lợi. Lần này sức ép cụ thể phải như thế nào để ràng buộc trách nhiệm trong việc thực hiện?

Về áp lực và các chế tài đã có. Theo Nghị định 99/CP quy định về quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với DNNN và phần vốn nhà nước ở DN khác, nếu ai không thực hiện được nhiệm vụ của chủ sở hữu giao thì phải chịu trách nhiệm, chế tài. Chỗ nào cần thay, miễn nhiệm, cách chức, chuyển đổi đều có quy định. Nhưng lâu nay chúng ta chưa làm vì chưa tới “chân tường”.

Thứ hai là việc xử lý lãnh đạo DNNN, lâu nay lãnh đạo DN bị thay vì lý do không CPH là chưa có tiền lệ mà thường là vì kinh doanh không hiệu quả, để DN thua lỗ, vi phạm pháp luật. Lần này chúng ta quy định, nếu không thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu DN, lãnh đạo DN sẽ bị thay.

Vừa qua Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng đã làm việc này rồi, tinh thần là nếu không làm được thì thay.

Các lãnh đạo DNNN đừng nghĩ rằng mình là người không thể thay thế được bởi không ai không thể thay thế. Những nơi nào còn tư duy không muốn cổ phần, tái cơ cấu thì tránh ra để người khác làm.

Chúng ta có hơn 500 nghìn DN, mà DNNN chỉ có 1.000. Vậy 499 nghìn DN kia ai quản lý? Chúng ta có 90 triệu dân, trong đó có nhiều người có trình độ năng lực rất tốt hoàn toàn có thể quản lý được DN.

Còn chế tài đối với lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai chậm, thưa ông?

Lãnh đạo các Bộ, ngành địa phương phải chịu trách nhiệm hành chính trước Thủ tướng.

Công khai sớm DN CPH

Mặc dù thể hiện quyết tâm như vậy nhưng một số chuyên gia kinh tế chưa yên tâm lắm với các giải pháp, họ muốn có một cơ quan độc lập giám sát, hỗ trợ việc CPH, tái cơ cấu DNNN?

Hầu hết ý kiến của các chuyên gia về DN chúng tôi đều lắng nghe. Những ý kiến của các anh, các chị rất xác đáng, đáng trân trọng. Nhưng cũng có lúc các chuyên gia chưa có đủ thông tin, nên việc góp ý chưa phát huy tốt. 

Trên thực tế, khi thực hiện chúng ta phải căn cứ vào nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tình hình thực tế.

Vì vậy phải có thời gian để thể chế hóa ý kiến của các chuyên gia. Còn giám sát độc lập, hiện nay chúng ta có nhiều bộ phận giám sát như người dân, các cơ quan chức năng, đoàn thể...

“Các lãnh đạo DNNN đừng nghĩ rằng mình là người không thể thay thế được bởi không ai không thể thay thế. Những nơi nào còn tư duy không muốn cổ phần, tái cơ cấu thì tránh ra để người khác làm. Chúng ta có hơn 500 nghìn DN, mà DNNN chỉ có 1.000. Vậy 499 nghìn DN kia ai quản lý? Chúng ta có 90 triệu dân, trong đó có nhiều người có trình độ năng lực rất tốt hoàn toàn có thể quản lý được DN”. Ông Phạm Viết Muôn

Nhiều ý kiến cho rằng chúng ta cần chủ động thông tin sớm hơn về các DN sẽ CPH để nhà đầu tư cân nhắc?

Chúng tôi khẳng định tất cả các công ty CPH từ trước tới nay đều công khai. Danh sách 432 DN CPH sẽ được đăng công khai trên website của chính phủ. Bởi 432 DN đã nằm trong các quyết định phê duyệt của các bộ, các ngành, các địa phương, tổng công ty, tập đoàn.

Một vướng mắc nữa là tính giá trị đất vào giá trị DN, phương án tới đây của chúng ta đã rõ chưa, thưa ông?

Đây là vấn đề thực tế. Vừa rồi Nghị định 189 đã quy định cho DN thuê đất chứ không tính vào giá trị DN để CPH. Đất thuộc về nhà nước, DN thuê để trả tiền hàng năm. Nếu sử dụng không đúng mục đích, vi phạm sẽ bị cắt hợp đồng.

Thoái vốn - rút quân phải có trật tự

Lần này chúng ta đặt quyết tâm CPH một lượng lớn DN trong thời gian ngắn vậy có lo ngại thất thoát trong việc CPH, Ban chỉ đạo đã lường trước được chưa?

Nói thất thoát trong CPH thì thất thoát ở đâu, từ cái gì và phải có địa chỉ. Vừa qua có nơi xảy ra thất thoát chủ yếu do định giá đất thấp khi định giá DN. Bây giờ chuyển sang cơ chế cho thuê đất, như vậy đã giải quyết căn bản vấn đề này. 

Còn tài sản trên đất, đã có tổ chức tư vấn xác định giá trị DN. Giá công trình kiến trúc, máy móc thiết bị… đều có phương pháp. Đặc biệt, nguyên tắc tính thế nào thì cũng không được thấp hơn giá trị sổ sách. 

Có thất thoát, có tiêu cực cần phải khắc phục nhưng không đến mức làm chùn chân, chùn tay trong thực hiện CPH. Bởi nhiều ý kiến còn khẳng định CPH là con đường duy nhất.

Về thoái vốn đầu tư ngoài ngành, theo ông cơ chế chúng ta mở ra cho bán dưới giá thành liệu có nguy cơ mất vốn nhà nước?

Tổng số vốn ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty là gần 22 ngàn tỷ vào ngành như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm…. 

Nếu tính tổng vốn các tập đoàn tổng công ty 840 ngàn tỷ, vì thế 22/840 ngàn tỷ chỉ khoảng hơn 2% tổng số vốn. Hơn nữa trong 22 ngàn tỷ không phải cái nào cũng mất giá. 3 năm vừa rồi, chúng ta đã thoái vốn được 4.000 tỷ đồng rồi. Chúng ta nên hiểu tinh thần thoái vốn cũng giống như rút quân phải có trật tự. Cái nào càng để càng lỗ thì mới bán ngay còn lại phải phân loại để có lộ trình chặt chẽ. 

Như việc góp vốn vào nhà máy thủy điện, giờ đang xây dở dang thì phải hoàn thiện chứ không nên bán ngay. Ngoài ra còn phụ thuộc vào thị trường, không phải nói bán là bán được ngay. Chúng ta không CPH bằng mọi giá, thoái vốn cũng không bằng mọi giá, không chạy theo thành tích.

Cảm ơn ông!

Theo tienphong.vn

Từ khóa: cổ phần hóa , doanh nghiệp nhà nước , thoái vốn , tái cơ cấu , tổng số vốn , giá trị , cổ phần , cơ chế , doanh nghiệp , Phạm Viết Muôn Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham

Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham

Thứ ba 18/02/2014 08:34

PGS., TS. Ngô Trí Long

(Tài chính) Diễn biến của lạm phát (thường thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng - CPI) ở Việt Nam thường rất nhạy cảm, không bền vững, dễ bị phá vỡ và đặc biệt, nếu bùng phát trở lại sẽ rất khó kiểm soát. Do vậy, mặc dù CPI năm 2013 chỉ tăng 6,04%, nhưng Chính phủ vẫn cần luôn “cảnh giác” để tránh rủi ro cho những năm tới.

CPI ở Việt Nam thường rất nhạy cảm, không bền vững, dễ bị phá vỡ và đặc biệt, nếu bùng phát trở lại sẽ rất khó kiểm soát. Nguồn: internet

Năm 2013: CPI tăng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 6,04% so với tháng 12/2012. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012.

Nhìn lại diễn biến CPI năm 2013, có thể thấy nổi lên một số điểm đáng chú ý như sau:

Con số 6,04% là mức tăng khá thấp trong vòng 10 năm trở lại đây, đây là tín hiệu tốt để phấn đấu kiểm soát lạm phát trong năm 2014. Kết quả này cho thấy, các bộ, ngành và địa phương đã thực hiện tốt và khá quyết liệt vấn đề kiểm soát lạm phát, chống buôn lậu, hàng giả, hàng nhái.

CPI tăng cao vào quý I và quý III với mức tăng bình quân tháng là 0,8%; quý II và quý IV, CPI tương đối ổn định và tăng ở mức thấp, với bình quân tháng là 0,4%. Diễn biến giá cả theo tháng cho thấy, có 3 tháng tăng rất cao trên 1%, đó là tháng 1, tháng 2 và tháng 9, tháng 8 tăng cũng khá cao 0,83%. Tháng 1 và 2 giá tăng cao theo đúng chu kỳ tiêu dùng do ảnh hưởng của Tết Nguyên đán, còn tháng 9 tăng cao 1,09% lại do các quyết định hành chính, mà cụ thể là tăng học phí ở các cấp học, giá dịch vụ y tế tại một số tỉnh, thành cả nước. Xét số liệu lịch sử 3 năm gần đây, tháng 8 và 9 hàng năm thường có mức CPI tăng đột biến mạnh hơn các tháng trước đó do chịu ảnh hưởng của giá dịch vụ y tế và học phí.

Mặc dù mức tăng cao lên trong 3 tháng, nhưng tính chung cả năm, CPI cả năm 2013 chỉ tăng 6,04%, thấp nhất kể từ năm 2004 đến nay. Tuy CPI tăng, giảm không đều qua các tháng, nhưng hoàn toàn phù hợp với quy luật tiêu dùng và diễn biến theo “sức khỏe” của nền kinh tế.

Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tháng 12/2013 so với tháng trước tăng cao nhất với mức tăng 2,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,57%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,49%. Trong rổ hàng hóa tính CPI, nhóm có quyền số lớn nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm đến gần 40%, nhưng giá lại có xu hướng ổn định hoặc tăng nhưng rất thấp.

Một số nhóm hàng hóa hay có xu hướng tăng, giờ lại khá ổn định và thậm chí giảm, như: nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng do xu thế thị trường bất động sản hiện trầm lắng; nhóm giao thông bị ảnh hưởng trực tiếp của giá xăng dầu, 12 tháng có 5 lần tăng (đợt tăng giá xăng dầu ngày 18/12 vừa qua chưa ảnh hưởng đến giá cả tháng 12/2013) và 6 lần giảm, đẩy giá xăng hiện nay đang cao hơn 1.060 đồng/lít so với thời điểm đầu năm (tăng 4,48%), song nhìn chung vẫn ảnh hưởng ít đến CPI.

Kể từ năm 2007 đến năm 2012, CPI lặp lại một vòng luẩn quẩn “2 năm tăng, 1  năm giảm”. Điều này cho thấy, những năm qua chúng ta mới thành công về kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn, chưa thành công trong trung và dài hạn. Nhưng, CPI năm nay có tốc độ tăng tương đối thấp so với tháng 12/2012 và thấp hơn nhiều trong vòng gần 10 năm. Như vậy, CPI năm 2013 đã không lặp lại vòng luẩn quẩn “2 cao, 1 thấp” như trên.

Nguyên nhân do đâu?

Một là, các cấp, các ngành trong cả nước đã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp trong các Nghị quyết số 01/NQ-CP, số 02/NQ-CP, ngày 7/1/2013 của Chính phủ. Khác với những lần trước, khi lạm phát “chớm” giảm, thì Chính phủ lại nới lỏng chính sách tiền tệ, còn 2 năm nay đã thực hiện nhất quán trong thời gian dài nên năm 2012 và 2013, chúng ta đã duy trì được lạm phát thấp.

Hai là, do lạm phát toàn cầu có xu hướng giảm, chủ yếu do giá lương thực, giá nhiên liệu thế giới không có biến động nhiều, điều này đã tác động làm giảm giá hàng hóa qua các kênh nhập khẩu.

Ba là, giá một số mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý được điều chỉnh tăng theo kế hoạch và theo cơ chế thị trường. Cụ thể: giá dịch vụ y tế, giáo dục (học phí phổ thông công lập) đã tăng lên làm ảnh hưởng đến chỉ số giá của các tỉnh và chỉ số chung của cả nước. Trong năm có 17 tỉnh, thành phố điều chỉnh giá dịch vụ y tế làm cho CPI của nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 18,97% so với tháng 12 năm trước, đóng góp vào chỉ số chung cả nước gần 1,1%; các địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí làm làm CPI nhóm giáo dục tăng 11,71%, đóng góp vào chỉ số chung cả nước tăng khoảng gần 0,7%; giá xăng dầu được điều chỉnh tăng/giảm và cả năm tăng 2,18%, góp vào CPI chung cả nước mức tăng 0,08%; giá điện điều chỉnh tăng 10%, đóng góp vào CPI chung khoảng 0,25%. Bên cạnh đó, giá gas cả năm tăng gần 5%, đóng góp vào CPI cả nước với mức tăng 0,08%; 

Bốn là, CPI thường chịu tác động của 4 nhóm yếu tố: chi phí đẩy, cầu kéo, tiền tệ - tín dụng và tâm lý. Về các yếu tố này, trong năm qua cho thấy, nhiều khoản thuế đã được cắt giảm, giãn, hoãn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí, giảm giá hàng hoá, dịch vụ; lãi suất cho vay của ngân hàng đã giảm khá nhanh; tỷ giá ổn định làm cho giá hàng nhập khẩu tính bằng USD giảm. Cụ thể:

Trong năm qua, tổng cầu vẫn yếu do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm (vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 1091,1 nghìn tỷ đồng, tuy đã tăng 8% so với năm trước, nhưng cũng chỉ bằng 30,4% GDP, thấp hơn nhiều so với thời kỳ 2006 – 2010 là 39,2% bình quân năm).

Dù sức mua đã được cải thiện trong nhiều tháng nay, nhưng mức tăng vẫn chậm. Trong bối cảnh khó khăn chung, các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực thương mại, dịch vụ và xuất khẩu liên tục đối mặt với nhiều thách thức gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất, kinh doanh. Hoạt động bán lẻ từ năm 2011 đến nay nhìn chung chậm lại trên tất cả các kênh truyền thống cũng như siêu thị. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 ước tính đạt 2.618 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm 2012 và là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.

Về tiền tệ - tín dụng, áp lực đối với lạm phát đang có xu hướng giảm, như: tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cũng đã giảm nhanh trong mấy năm qua (từ 33,3%/năm trong thời kỳ 2006 - 2010, xuống còn 14,45% năm 2011, còn 8,85% trong năm 2012. Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trong Hội nghị tổng kết ngành Ngân hàng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, đến ngày 27/12/2013, tăng trưởng tín dụng tăng 11% so với cuối năm 2012 và dự kiến sẽ đạt mục tiêu như kế hoạch đặt ra là khoảng 12%; thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả của hệ thống; tỷ giá ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao.

Hệ số giữa tốc độ tăng dư nợ tín dụng và tốc độ tăng GDP đã giảm mạnh trong thời gian qua (thời kỳ 2006 - 2010 là 5,3 lần, năm 2011 là 2,3 lần, năm 2012 là 1,7 lần, ước năm 2013 là 2,2 lần). Mặc dù có những tín hiệu tốt, nhưng hoạt động ngân hàng vẫn đối mặt với nhiều thách thức; tỷ lệ nợ xấu tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao; chất lượng tín dụng chưa thực sự được cải thiện; nợ xấu chưa được phân loại và đánh giá đầy đủ, chính xác.

Trong khi đó, tâm lý kỳ vọng lạm phát không bị áp lực lớn như trước, khi giá vàng giảm, giá USD ổn định, chứng khoán vẫn chưa vượt khỏi mốc 500 một cách bền vững, bất động sản chưa thoát đáy để đi lên…

Như vậy, do kinh tế khó khăn với những tác động không mong muốn đã dẫn đến lạm phát thấp. CPI năm 2013 tăng thấp, về mặt con số, đó là những niềm vui của người tiêu dùng, của toàn xã hội. Còn đối với các nhà hoạch định chính sách, điều hành kinh tế vĩ mô yên tâm hơn đối với vấn đề kiểm soát lạm phát, để có điều kiện đẩy mạnh thực hiện các chính sách khác.

Tuy nhiên, việc kiềm chế lạm phát thành công trong gần 2 năm qua, bên cạnh tác động tích cực, cũng đã làm phát sinh các hiệu ứng phụ. Thắt chặt chính sách tiền tệ đã khiến sức mua của người tiêu dùng yếu đi, đầu tư của doanh nghiệp và chi tiêu của Chính phủ bị thu hẹp. Chú trọng quá đến mục tiêu kiểm soát lạm phát dẫn đến việc kinh tế suy giảm, trong tương lai có thể gây mất cân đối cung - cầu hàng hóa và tạo ra lạm phát do thiếu cung.

Người viết vẫn băn khoăn rằng, cách giảm được lạm phát như vừa qua có thể là không bền vững, không mong muốn. Nhiều ý kiến cũng cho rằng, chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa quá mức thời gian qua đã khiến nền kinh tế suy yếu. Nhìn vào chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2013 cho thấy, nền kinh tế mới bước đầu thoát khỏi trì trệ, trong bối cảnh sức khỏe của nền kinh tế còn nhiều lo ngại. Nhiều khó khăn thách thức của nền kinh tế chưa vượt qua được, nên các yếu tố không mong muốn trên đây chắc chắn sẽ còn tiếp tục tác động mạnh đến mặt bằng giá cả thị trường trong năm 2014.

Dự báo CPI năm 2014 và một số kiến nghị, giải pháp

Về tình hình năm 2014, những khó khăn, thách thức của nền kinh tế về cơ bản vẫn còn, kinh tế thế giới dự báo vẫn còn nhiều khó khăn. Mặc dù CPI đang trong tầm kiểm soát, sức mua yếu, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng giá. Bởi vậy, trong năm 2014, cần xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng. Nếu không có giải pháp phù hợp thì tăng trưởng vẫn sẽ thấp và kinh tế nước ta sẽ khó thoát đáy vào cuối năm 2014. Lạm phát năm 2014 cũng sẽ đối mặt với nhiều áp lực hơn nếu có biến động mạnh trong điều hành chính sách vĩ mô, nhất là khi điều chỉnh tăng đầu tư công, tăng dư nợ tín dụng, tiền lương, giá điện, than và dịch vụ công. Bởi, việc kiềm chế lạm phát hiện nay chưa thật bền vững, về nguyên nhân sâu xa, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất lao động còn thấp, chưa được cải thiện nhiều và lạm phát sẽ có thể quay trở lại bất kể lúc nào có các cú sốc từ bên trong và bên ngoài.

Để từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện tốt mục tiêu kiểm soát lạm phát (ở mức 7%) và đảm bảo tăng trưởng (khoảng 5,8%) năm 2014 do Quốc hội đặt ra, theo tôi, các ngành, các cấp, các địa phương cần thực hiện tốt những giải pháp sau chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ. Điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; Tăng dư nợ tín dụng phù hợp và bảo đảm chất lượng tín dụng; Điều hành hiệu quả tỷ giá, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam; Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu; Tăng dự trữ ngoại hối; Thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán; Tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tập trung chống thất thu, thực hiện triệt để tiết kiệm, kiên quyết cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết. Tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng, dịch vụ công thiết yếu, như: điện, than, xăng dầu, nước, dịch vụ y tế... theo lộ trình phù hợp, bảo đảm yêu cầu kiểm soát lạm phát, công khai minh bạch và có hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo. Tăng cường quản lý thị trường, giá cả.

Thứ hai, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Chính phủ cần có giải pháp cụ thể nhằm giúp doanh nghiệp chuẩn bị và nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Mặc dù các bước cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện từ nhiều năm, nhưng tốc độ còn chậm và hiệu quả còn thấp. Vì thế, các chương trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, cổ phần hóa doanh nghiệp cần phải được Chính phủ chỉ đạo và thực hiện nhanh và mạnh hơn trong năm 2014. Cùng với đó, giải quyết nhanh và hiệu quả hơn vấn đề nợ xấu, hoàn thành cơ bản việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và tiếp tục khai thác tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Trong những năm tới, cần xác định đầy đủ thách thức và lợi thế khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) để từ đó tập trung đầu tư phát triển mạnh những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh với thuế suất thấp nhất.

Thứ tư, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30/CT-TTg, ngày 26/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Các cơ quan quản lý cần kiểm tra và rà soát kỹ các quy định, văn bản trước khi ban hành để tránh có lỗ hổng gây thất thu thuế. Bên cạnh đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với các doanh nghiệp có hành vi chuyển giá gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế. Thực hiện tiết kiệm chi tiêu sao cho phù hợp với tình hình khó khăn hiện nay theo hướng ưu tiên cho các chương trình giảm nghèo, nông thôn mới. Bội chi ngân sách cần được kiểm soát chặt chẽ, nâng bội chi phải đi đôi với giám sát tính hiệu quả của đầu tư công vì đây là nguyên nhân cơ bản nhất gây ra lạm phát ở Việt Nam. Rà soát những khoản chi thường xuyên không hợp lý, gây lãng phí. Bảo đảm tính hiệu quả và nâng cao chất lượng các khoản chi trong chi cho phúc lợi xã hội.

Thứ năm, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan và lộ trình hợp lý về thời điểm tăng giá, mức tăng giá... Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 25/CT-TTg, ngày 05/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong dịp Tết Giáp Ngọ 2014.

Thứ sáu, đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Theo đó, cần tăng cường sự phối hợp công tác quản lý giữa các bộ - thành viên của Chính phủ để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, nhất là việc điều hành theo Quyết định 1317/QĐ-TTg, ngày 6/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Ngân hàng Nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện sớm Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành trong các lĩnh vực: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả... Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: chỉ số giá tiêu dùng , lạm phát , tín dụng , điều hành , thách thức , kinh tế vĩ mô , dư nợ , dịch vụ công , Chính phủ , hàng hóa , mặt hàng Các tin đã đưa Tập trung kiểm toán tài chính, bảo hiểm Kinh tế Việt Nam 2014: Cơ hội và giải pháp lớn! Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Cần một cuộc "ân xá" để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tái cơ cấu kinh tế: Kết quả ban đầu và những vấn đề đặt ra Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Khoa học, công nghệ - Động lực phát triển Khi lạm phát không còn là “con ngựa” bất kham Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng của Việt Nam "Điểm mặt" những mục tiêu cơ bản của Luật Đấu thầu 2013 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

"Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình"

"Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình"

Thứ tư 12/02/2014 09:00

(Tài chính) Đầu năm mới, tại một cuộc nói chuyện với các doanh nhân, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã chỉ rõ những thách thức, cơ hội và triển vọng phát triển của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam trong thời gian tới. 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Những thách thức trước mắt

Một là, kinh tế vĩ mô vẫn còn bất ổn, trong thời gian tới, Chính phủ cần phải đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu. Nhiều vấn đề dài hạn vẫn chưa thể sớm giải quyết. Môi trường kinh doanh, hệ thống khuyến khích chưa chuyển. Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển tiếp tục khó khăn. Về dài hạn, muốn ổn định kinh tế vĩ mô cần phải tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế, không thể chỉ bình ổn trong thời gian ngắn.

Hai là, kinh tế thế giới chậm cải thiện và những thay đổi liên tục diễn ra trong thương mại toàn cầu và ở các nền kinh tế lớn cũng như trong khu vực. Kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế mở, xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nên phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế toàn cầu. Trong khi nền kinh tế thế giới đang thay đổi rất nhanh thì Việt Nam đang có chiều hướng bị “hụt hơi” và không theo kịp tốc độ thay đổi của thương mại thế giới để tận dụng những cơ hội và tránh được những thách thức đặt ra.

Ba là, nhiều cam kết FTA mới mà nước ta tham gia với mức độ, phạm vi tự do hóa và các chuẩn mực cao hơn, tốc độ nhanh hơn. Trong thời gian tới, sẽ hoàn thành cơ bản hệ thống Cộng đồng kinh tế ASEAN; Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm 10 thành viên ASEAN và 6 đối tác (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand); Đàm phán TPP với Mỹ; Đàm phán giữa EU và FDI… Như vậy, một loạt những cơ hội mới được đặt ra, mở rộng hơn nhiều so với những cam kết trước đây Việt Nam đã có.

Việc theo kịp những đòi hỏi của WTO đã là rất khó đối với nền kinh tế Việt Nam, bởi vậy không dễ dàng gì để DN trong nước có thể tận dụng được các cơ hội từ tự do hóa thương mại. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành đã từng đặt ra vấn đề: Liệu chúng ta có tận dụng được những cơ hội này hay lại biến cơ hội thành thách thức, biến thách thức thành khủng hoảng…

Bốn là, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong nước tăng mạnh về nhiều mặt từ 2015, đặc biệt là sự gia tăng của các DN FDI cũng như hàng hóa từ Trung Quốc và các nước ASEAN. Từ 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ hình thành, sự có mặt của các nước này trên thị trường Việt Nam sẽ gia tăng nhanh chóng. Trong khoảng 2 năm trở lại đây, tốc độ của DN ASEAN thâm nhập thị trường Việt Nam đang tăng lên mạnh mẽ và họ sẵn sàng mua DN, nhà máy, xưởng sản xuất lớn để tìm kiếm những chỗ đứng trên thị trường nước ta.

Chiến lược của họ rất bài bản và cặn kẽ để có thể xâm chiếm thị trường, bởi vậy ngay tại thị trường Việt Nam, các DN trong nước cũng gặp nhiều khó khăn để cạnh tranh với chính những mặt hàng chủ đạo như xi măng, sắt, thép… Chưa kể đến trong giai đoạn 2015-2018, Việt Nam  phải thực hiện cam kết ASEAN - Trung Quốc, việc gỡ bớt rào cản về thuế sẽ còn đẩy nhanh hơn nữa quá trình này.

Năm là, bản thân các DN phải tự tái cơ cấu, điều chỉnh chiến lược cạnh tranh, tự vượt khó để tồn tại và thích ứng với những đòi hỏi mới trong khi nguồn lực lại có hạn, tương lai chưa chắc chắn và niềm tin thấp. Một trong những thành công lớn nhất của đổi mới là sự phát triển của các DN thổi bùng lên tinh thần kinh doanh của người Việt Nam nhưng hiện nay tinh thần đó đang đi xuống và gặp khó khăn.

Những cơ hội mở ra

Cơ hội của DN phụ thuộc vào các nhân tố vĩ mô. Nếu như Nhà nước thực sự thực hiện được 3 đột phá chiến lược như Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu ra, đặc biệt là về thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng có thể giúp nền kinh tế dần ổn định và tăng trưởng theo hướng bền vững. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng, mở ra rất nhiều cơ hội cho các DN.

Tái cơ cấu tạo sự cải thiện môi trường kinh doanh, phân bổ nguồn lực và chính sách khuyến khích công bằng, hiệu quả hơn. Một trong những yếu tố quan trọng của tái cơ cấu DNNN là để đảm bảo cho môi trường kinh doanh công bằng hơn, cạnh tranh tốt hơn. Một mặt, việc cạnh tranh công bằng giúp DNNN tự cải thiện mình đồng thời tạo môi trường rộng mở cho khu vực DN tư nhân phát triển. Thủ tướng Chính phủ đã cam kết với cộng đồng quốc tế sẽ đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, điều này cho thấy chỉ khi DNNN chấp nhận rút bớt sân chơi của mình thì các khu vực khác mới có thêm cơ hội để tiếp cận và phát triển.

Hội nhập quốc tế sâu hơn và các FTA mới (EPA, TPP, EU) tạo sự cải thiện môi trường kinh doanh, cơ hội thương mại và đầu tư về nhiều mặt giúp các DN phát triển.

Thị trường khu vực phát triển khá cao và ổn định với những xu thế mới như: chú trọng thị trường nội địa, nâng cao trình độ công nghệ, tăng cường liên kết kinh tế trong khu vực.

Các DN hiện nay đã thấy hết được những vấn đề sống còn cho phát triển dài hạn của mình, thấy rõ phải thay đổi mạnh. Năng lực của các DN đã khá hơn, đội ngũ trẻ được đào tạo tốt hơn và có nhiều lựa chọn cho con đường sắp tới.

Những kỳ vọng phát triển

Thứ nhất, trong thời gian tới, nếu như thực hiện tốt tái cơ cấu thì DNNN và khu vực tư nhân trong nước sẽ lấy lại được vai trò động lực của mình trong nền kinh tế, tăng cường hợp tác cùng phát triển với các DN FDI. Theo báo cáo của nhóm nghiêm cứu kinh tế cho thấy, trong 4 động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có 3 động lực đã bị xuống quá thấp (DNNN, khu vực tư nhân và nông nghiệp), động lực còn lại là đầu tư nước ngoài lại không bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống thể chế môi trường kinh doanh Việt Nam.

Thứ hai, khu vực DN trong nước cải thiện vị thế trong xuất khẩu và công nghiệp, tăng tham gia vào nông nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhân tố đầu vào. Đây cũng là vấn đề quan trọng bởi trong những năm gần đây, vị thế xuất khẩu của nước ta đang suy giảm nhường sân cho DN đầu tư nước ngoài (chiếm khoảng 65% xuất khẩu của Việt Nam), tốc độ tăng xuất khẩu của các DN Việt Nam cực thấp (chỉ khoảng 1,3%). Mức tăng xuất khẩu hiện nay quá thấp trong khi điều kiện thị trường bên ngoài vẫn còn tốt.

Trong khi đó, các DN nước ngoài chớp cơ hội kinh doanh nhảy vào thị trường Việt Nam chiếm lĩnh thị phần, mua lại các DN Việt Nam. Đối với công nghiệp cũng vậy, các DN nước ngoài hiện nay chiếm khoảng 45% giá trị sản lượng công nghiệp và vẫn đang tiếp tục mua lại các DN của Việt Nam. Nếu các DN trong nước không cố gắng vươn lên thì trong nay mai người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên chính quê hương của mình.

Thứ ba, tăng cường liên kết giữa DN với nhau và với nông dân, trí thức để cùng phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.

Thứ tư, DN Việt Nam đổi mới tư duy và cách thức phát triển dựa vào công nghệ, sáng tạo để tăng năng lực cạnh tranh, tạo lợi thế mới, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Đây là những kỳ vọng DN Việt Nam phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, DN trong nước phát triển tốt hơn vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào cải cách, định hướng chính sách của Nhà nước cũng như bản thân các DN.

Chúng ta chỉ còn 2 năm nữa trước khi các FTAs mới hình thành đầy đủ và đi vào thực hiện, nếu như các DN không tăng tốc chuẩn bị thì sẽ không thể phát triển được. Các DN cần phải tự tin, nghĩ mới, làm mới để vươn lên không chỉ cho chính mình mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.

Bài đăng trên báo Kiểm toán số 1 - 2014

Từ khóa: doanh nhân , doanh nghiệp Việt Nam , kinh tế vĩ mô , môi trường kinh doanh , tái cơ cấu nền kinh tế , cạnh tranh , thị trường , tăng trưởng kinh tế Các tin đã đưa "Nếu doanh nghiệp trong nước không vươn lên thì người Việt Nam sẽ phải làm thuê trên quê hương mình" Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước - Làm gì để tăng tốc? “Quá nuông chiều doanh nghiệp FDI” Vẫn muốn “đẻ” thêm ngân hàng làm gì? Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Thực thi cam kết TPP - cơ hội và thách thức Nợ công của Việt Nam năm 2013 và quản lý nợ trung hạn Phát triển kinh tế, chỉ vốn ngân hàng là chưa đủ Thị trường tài chính 2014 sẽ tích cực hơn Mua bán tài sản: Giá đắt, giá rẻ và giá tốt Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS