Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may!

Thứ sáu 28/03/2014 14:10

(Tài chính) Chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật về doanh nghiệp và chứng khoán mà thời gian qua, không ít công ty đại chúng đã bị xử phạt vì những lỗi không đáng có. Hậu quả là không chỉ bị giảm sút uy tín mà doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động như hiện nay.

TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Nguồn: internet

Chưa bị phạt là may!

Đến nay, vẫn còn không ít doanh nghiệp đủ điều kiện là công ty đại chúng nhưng chưa đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Trong khi đó, cũng có không ít công ty đại chúng, kể cả những công ty đang có cổ phiếu giao dịch trên sàn UPCoM không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, hoặc có thực hiện nhưng nửa vời, ví dụ báo cáo tài chính không có thuyết minh, các báo cáo không được lưu trữ đầy đủ trên website của công ty…

Trong nhiều trường hợp, việc vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin là do doanh nghiệp cố tình che giấu thông tin. Nhưng cũng có không ít trường hợp lại bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật, để rồi bị xử phạt vì những lỗi rất sơ đẳng. Cứ xem các quyết định xử phạt của UBCKNN gần đây sẽ thấy, một loạt doanh nghiệp mắc phải lỗi không công bố các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị công ty… đầy đủ và kịp thời.

Pháp luật quy định, công ty đại chúng phải có website để thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và website phải thiết kế một mục dành riêng cho cổ đông hay quan hệ nhà đầu tư. Vậy mà, vẫn có doanh nghiệp bị xử phạt vì website không có chuyên mục này.

Tại Hội nghị “Doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết 2014” do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) phối hợp với UBCKNN tổ chức hôm 26/3 vừa qua tại TP. HCM, nhiều doanh nghiệp đã đặt câu hỏi với đại diện cơ quan quản lý thị trường, để lộ nhiều “lỗ hổng” về kiến thức pháp luật cơ bản đối với doanh nghiệp, mà với những “lỗ hổng” ấy, doanh nghiệp chưa bị phạt… là may!

Đại diện một doanh nghiệp thuỷ điện có 99% vốn Nhà nước, 1% vốn góp của cán bộ nhân viên đã đặt câu hỏi: “Luật pháp quy định, công ty đại chúng buộc phải đăng ký lưu ký tập trung, nhưng chúng tôi thấy làm như thế phiền phức và tốn kém. Hơn nữa, chúng tôi đang tự quản lý cổ đông rất tốt. Chúng tôi không đăng ký công ty đại chúng có được không?”.

Một loạt câu hỏi tương tự cũng được đặt ra, như công ty đang thuê công ty chứng khoán (CTCK) quản lý sổ cổ đông có vi phạm luật không? Quy định hiện hành có bắt buộc công ty đại chúng phải niêm yết, đăng ký giao dịch trên UPCoM không? Công ty có vốn 16 tỷ đồng có bắt buộc phải đăng ký chứng khoán và đăng ký giao dịch không?

Trước những câu hỏi như thế, ông Nguyễn Sơn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN đã thốt lên: “Những câu hỏi mà đại diện các doanh nghiệp đưa ra cho thấy, các doanh nghiệp nắm chưa vững cả Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật về chứng khoán. Vì thế, các doanh nghiệp vi phạm dẫn đến bị xử phạt cũng là lẽ đương nhiên”.

Theo quy định, doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên và có ít nhất 100 cổ đông thì được xem là công ty đại chúng và đã là công ty đại chúng thì phải đăng ký lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD). Nếu công ty đại chúng thuê CTCK quản lý cổ đông thì cả hai đều sai.

Về quy định tại Luật Doanh nghiệp, có người hỏi: “Cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phiếu trong vòng 5 năm, nếu đại  hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thông qua có phạm luật không?”. Rõ ràng, người hỏi đã không nắm được quy định tại Luật Doanh nghiệp về thời gian hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập là 3 năm, chứ không phải 5 năm.

Ngoài ra, pháp luật quy định việc hạn chế chuyển nhượng, chứ không phải không được chuyển nhượng, bởi trong thời hạn đó, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận.

Trước câu hỏi “Điều lệ công ty cổ phần quy định cổ đông phải nắm giữ một tỷ lệ nhất định mới được tham dự ĐHĐCĐ có vi phạm Luật Doanh nghiệp không?”, ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCKNN giải thích điều này chắc chắn vi phạm.

“Tôi không nghĩ đến giờ này vẫn còn băn khoăn như vậy, bởi nó đã diễn ra cách đây khoảng 4 - 5 năm và trên nhiều phương tiện truyền thông đã nói rất rõ về việc quy định như vậy là trái với Luật Doanh nghiệp”, ông Hải nói.

Lỡ cơ hội vì thiếu hiểu biết

Trước ý kiến lo ngại về việc trong khi có nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật thì vẫn còn một số khác chưa tuân thủ pháp luật sẽ gây nên tình trạng bất công bằng giữa các doanh nghiệp, bà Vũ Thị Chân Phương, Vụ Trưởng Vụ Thanh tra, UBCKNN đã khuyến cáo, doanh nghiệp nếu làm sai sẽ dẫn đến bị khiếu kiện, khiếu nại hoặc bị xử phạt, tự đánh mất uy tín của mình.

“Doanh nghiệp đã đủ điều kiện thành công ty đại chúng, nhưng không đăng ký với UBCKNN, từ đó không công bố thông tin định kỳ, không báo cáo, không có website… Đến khi UBCKNN phát hiện thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt cho một loạt các vi phạm đó. Số tiền phạt sẽ là tổng mức phạt cho tất cả các hành vi vi phạm này”, bà Phương cho biết.

Còn theo ông Bùi Hoàng Hải, không có UBCKNN nước nào có đủ năng lực kiểm soát tất cả. “Vừa qua, chúng tôi đã nghiên cứu TTCK Mỹ và thấy rằng, tốt nhất là UBCKNN tập trung xử lý sau khi các vi phạm được phát hiện, chủ yếu là từ các khiếu nại của cổ đông, nhà đầu tư. UBCKNN Việt Nam cũng chỉ có thể xử lý được những doanh nghiệp có đăng ký công ty đại chúng. Nếu công ty đã trở thành đại chúng rồi mà không đăng ký công ty đại chúng thì người giám sát tốt nhất lúc này chính là các cổ đông. Cách mà UBCKNN đang thực hiện là tăng cường phổ biến kiến thức, giúp các cổ đông có thể tự kiểm soát và bảo vệ quyền lợi của mình”, ông Hải nói.

Ông Hải cho biết, nhiều doanh nghiệp trước đây muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn, nhưng chưa làm được, do thị trường không thuận lợi, thì nay khi TTCK khởi sắc hơn đã bắt đầu nộp hồ sơ xin phép chào bán trở lại. Tuy nhiên, nhiều hồ sơ phải mất 6 tháng mới được cấp phép do dính những lỗi nhỏ, chẳng hạn như nghị quyết ĐHĐCĐ không được hiện đúng luật, không ghi rõ phương án phát hành, thiếu phương án sử dụng vốn, điều lệ có quy định trái với Luật Doanh nghiệp…

“TTCK đã tăng điểm đáng kể trong vòng 3 tháng qua. Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch chào bán chứng khoán trở lại. Nhưng nếu doanh nghiệp phải chờ tới 6 tháng nữa hồ sơ phát hành mới được thông qua thì cơ hội tốt nhất sẽ trôi qua. Vì thế, doanh nghiệp nào có ý định chào bán cổ phiếu thì nên làm việc với CTCK tư vấn để chuẩn bị chu đáo mọi hồ sơ ngay từ đầu, tránh trường hợp hồ sơ bị kéo dài quá lâu”, ông Hải khuyến cáo.            

Theo tinnhanhchungkhoan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp đại chúng , doanh nghiệp đại chúng , sử dụng vốn , vốn điều lệ , công ty chứng khoán , cổ đông , Luật Doanh nghiệp , chào bán cổ phiếu Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014

Thứ sáu 28/03/2014 15:39

(Tài chính) Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số doanh nghiệp và tăng 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nguồn: internet

Từ quý II/2013: Số doanh nghiệp thành lập mới đã tăng trở lại

Điều đáng lưu ý là bắt đầu từ quý II/2013 đến nay, các quý đều có số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: quý II/2013 tăng 20,1%, quý III/2013 tăng 18,1%, quý IV/2013 tăng 8%, so với cùng kỳ năm trước.

Tại các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia tăng về số doanh nghiệp thành lập so với cùng kỳ năm 2013: vùng Đồng bằng sông Hồng có 4.942 doanh nghiệp thành lập tăng 10,5%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 746 doanh nghiệp thành lập tăng 35,9%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 2.443 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 974 doanh nghiệp thành lập tăng 133%; vùng Đông Nam Bộ có 7.638 doanh nghiệp thành lập tăng 18,2%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 1.613 doanh nghiệp thành lập tăng 2,5%.

Ngược với xu hướng gia tăng chung của cả nước, một số địa phương vẫn có sự suy giảm về số doanh nghiệp thành lập mới, như: Hải Phòng giảm 4,4%; Quảng Ninh giảm 7,1%; Khánh Hòa giảm 16,6%; Bình Định giảm 36,4%; Sóc Trăng giảm 41,8%; Hậu Giang giảm 42,7%; Cao Bằng giảm 53,8%.

Về lĩnh vực, ngành nghề đăng ký hoạt động, trong quý I/2014 hầu hết đều có sự gia tăng của số doanh nghiệp thành lập mới, đặc biệt, một số ngành có tỷ lệ tăng cao như: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,2%; Kinh doanh bất động sản tăng 22,6%; Thông tin và truyền thông tăng 42,4%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,4%; Giáo dục và Đào tạo tăng 51,2%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 52,1%; Sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 57,3%.

Số doanh nghiệp khó khăn rơi vào tình trạng ngừng hoạt động trước và trong quý I/2013 quay trở lại hoạt động là 4.622 doanh nghiệp, trong đó tập trung chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đồng bằng Sông Hồng 1.458 doanh nghiệp (Hà Nội 1.052 doanh nghiệp); vùng Đông Nam Bộ 1.913 doanh nghiệp (Hồ Chí Minh 1.525 doanh nghiệp).

Lĩnh vực có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tập trung nhiều nhất là: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với 1.654 doanh nghiệp.

Quý I/2014, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký là 16.745 doanh nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 3.846 doanh nghiệp, tăng 7,8%; Số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 10.318 doanh nghiệp, tăng 9,3%; Số doanh nghiệp giải thể là 2.581 doanh nghiệp, tăng 13,6%

Ngược với xu hướng tốt lên của doanh nghiệp thành lập mới, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng, như: vùng Đông Nam Bộ tăng 18,1%, Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 26,1%.

 Tuy nhiên, một số khu vực được coi là đầu tàu kinh tế đã có xu hướng tốt lên so với cùng kỳ năm 2013 là Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động giảm 3%.

Xem xét các lĩnh vực, ngành nghề doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong quý I/2014, một số ngành có dấu hiệu tốt hơn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm, như: Sản xuất, phân phối điện, nước, gas giảm 5,4%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 14,7%; Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 33%.

Tuy nhiên, một số ngành, lĩnh vực vẫn có số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng cao như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 52,5%; Giáo dục và đào tạo tăng 27,3%.

Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp dần phát huy tác dụng

Đánh giá về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh là Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, các giải pháp bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy nền kinh tế dần dần vượt qua thời kỳ khó khăn.

Với những chính sách giảm, giãn, hoàn, miễn thuế, phí, lệ phí được ban hành trong năm 2013, thì một số ngành trực tiếp được hưởng lợi từ các chính sách này và có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều trong Quý I năm 2014 như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (1.654 doanh nghiệp); Xây dựng (878 doanh nghiệp); Công nghiệp chế biến, chế tạo (579 doanh nghiệp).

Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, thúc đẩy mặt bằng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên thị trường ngân hàng hạ dần, tác động tích cực đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ sử dụng vốn vay cao là những ngành hưởng lợi nhiều nhất, thể hiện qua số liệu doanh nghiệp tham gia vào các ngành này như: Công nghiệp chế biến và chế tạo (thành lập mới tăng 4 quý liên tiếp), Xây dựng đã tăng 6% trong quý I/2014 so với cùng kỳ năm 2013, trong khi năm 2013 giảm 3,7% so với năm 2012.

Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng diễn ra còn chậm so với kế hoạch đã đề ra. Sự chậm trễ trong việc đi vào hoạt động của Công ty Quản lý và khai thác tài sản Việt Nam đã dẫn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị này trong năm 2013 là không rõ nét và vẫn chưa xử lý được vấn đề nợ xấu cũng như tái cấu trúc hệ thống ngân hàng như kỳ vọng đã đặt ra.

Ngành tài chính và ngân hàng vẫn thế hiện tình trạng khó khăn khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể tăng tới 58,6% trong năm 2013 so với năm 2012.

Trong Quý I năm 2014, tình hình của khối doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã có dấu hiệu cải thiện khi số doanh nghiệp thành lập mới tăng 18,9%, ngừng hoạt động, giải thể giảm 14,7%.

Một trong các giải pháp giải quyết hàng tồn kho bất động sản là gói tín dụng 30.000 tỷ hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản và người mua nhà tiếp cận nguồn tín dụng có lải suất thấp, ổn định.

Tuy nhiên, do tiến độ giải ngân của gói tín dụng này quá chậm nên chưa có nhiều tác động hỗ trợ đối với doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản dừng hoạt động trong Quý I/ 2014 vẫn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013 (cả năm 2013 tăng 21,9% so với năm 2012)….

Cơ hội đan xen thách thức?

Cuối năm 2013, hầu hết các dự báo về tình hình kinh tế thế giới đều đánh giá tốc độ tăng trưởng năm 2014 sẽ khả quan hơn ở các lĩnh vực và các nền kinh tế. Tuy nhiên, tình hình chính trị bất ổn tại Ukraina và các điểm nóng khác trên thế giới đe dọa đến đà tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đầu năm 2014, đánh dấu lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lạnh, Mỹ và các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Liên bang Nga do căng thăng chính trị tại Ukraina leo thang.

Mặc dù quy mô các biện pháp trừng phạt còn nhỏ, nhưng nếu các bên liên quan không tìm được tiếng nói chung có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa kinh tế mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi chung của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị ứng phó với những khó khăn nảy sinh khi các thị trường xuất khẩu của nước ta như EU, Mỹ, Nga gặp khó khăn.

Tình hình trong nước còn khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ ràng hơn do tình hình kinh tế trong nước đang dần ổn định, cũng như các chính sách kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phát huy tác dụng. Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, năm 2014 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,67%-6,3%, chỉ số CPI tăng khoảng 7%-7,5%.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp có những cơ hội sau:

- Sự ổn định của kinh tế vĩ mô trong năm 2014 là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp yên tâm xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất.

- Dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài dự báo sẽ tăng đáng kể trong năm 2014, tạo động lực thúc đẩy đà hồi phục của doanh nghiệp, mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

- Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng do các Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định TPP được Việt Nam ký kết với các nước trên thế giới.

- Lãi suất ngân hàng ở mức hợp lý, giảm gánh nặng chi phí lãi vay của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, cũng không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đó là:

- Với việc tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh chất lượng hàng hóa, quy mô sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước đối tác.

- Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao, nợ xấu chưa được giải quyết mạnh mẽ, sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt, tiêu dùng nội địa còn yếu là những thách thức lớn của doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2014.

Doanh nghiệp vẫn mong chờ những hỗ trợ

Trong năm 2014, Chính phủ cần tiếp tục các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng cường tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt sử dụng hàm lượng chất xám, trình độ quản lý cao và giảm dần các ngành tiêu tốn nhiều vốn và lao động nhưng hiệu quả kinh tế thấp.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, trong thời gian tới, Chính phủ vẫn tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công khai, minh bách hóa chính sách, thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh, thông tin doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất khẩu.

 Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, cung ứng chuỗi; thu hút, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám; tạo điều kiện, môi trường, chính sách thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.

Đồng thời, đẩy nhanh quá trình giải quyết nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; khắc phục những yếu kém, tồn tại của thị trường bất động sản như vấn đề hàng tồn kho bất động sản, tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dẫn nhằm củng cố lại niềm tin của người dân; hoàn thiện thị trường chứng khoán theo định hướng trở thành kênh huy động vốn của doanh nghiệp.

Triệt để thực hiện lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cổ phần hóa tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế.

 Ban hành các chính sách kích thích tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng của doanh nghiệp như tăng cường quản lý giá cả, chất lượng hàng hóa, tình trạng cạnh tranh…

Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về những cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trong giai đoạn tới. Theo kinhtevadubao.com.vn

Từ khóa: giải thể , quý I , thành lập , doanh nghiệp Việt Nam , nợ xấu , Đồng bằng sông Hồng , Đông Nam Bộ , hàng tồn kho Các tin đã đưa Ngân hàng thương mại không có cửa “lách” nợ xấu Những động thái tích cực trong bức tranh doanh nghiệp quý I/2014 Không hiểu luật về doanh nghiệp đại chúng, chưa bị phạt là… may! Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững Những mô hình kinh doanh sống khỏe thời khủng hoảng Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn Tiền chạy ra… "sân sau" Thị trường bảo hiểm hưu trí: Sự hấp dẫn của những người già Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - nội địa Kết quả và giải pháp thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai 24/02/2014 14:00

TS. Nguyễn Minh Phong

(Tài chính) Trong sự đa dạng, nhiều chiều của các ý kiến về cải cách khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) và doanh nghiệp nhà nước (DNNN), dường như có cách hiểu chưa chuẩn xác về các vấn đề liên quan đến KTNN và DNNN... Dưới đây xin nêu về 3 ngộ nhận về KTNN và DNNN, đồng thời nói rõ thêm về các vấn đề này.

Cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP. Nguồn: internet

Ngộ nhận 1: Đồng nhất về tên gọi, nội hàm và vai trò chủ đạo của KTNN với DNNN

Nhiều ý kiến chưa phân biệt tên gọi KTNN và DNNN, mà thường dùng chung và đánh đồng với nhau. Từ đó dẫn đến sự ngộ nhận lớn là đồng nhất vĩnh viễn, cứng nhắc vai trò chủ đạo đương nhiên của KTNN với vai trò tương tự của DNNN.

Hơn nữa, hiểu cứng nhắc khái niệm chủ đạo trong nền kinh tế trước và sau Đổi mới, kéo theo những tranh luận “vô tiên khoáng hậu” về cách hiểu này.

Trước hết, cần khẳng định về tên gọi, KTNN khác DNNN và nội hàm của KTNN rộng hơn và bao quát trong nó DNNN chỉ như một bộ phận.

Từ năm 1986 đến nay, nội hàm KTNN trong công tác thống kê đã được xây dựng và điều chỉnh nhiều lần tương ứng với từng giai đoạn cụ thể.

Giai đoạn từ 1986-1990: KTNN bao gồm các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, các công ty kinh doanh thương nghiệp, ăn uống, xí nghiệp vận tải, xây dựng và dịch vụ phục vụ đời sống... của Nhà nước.

Giai đoạn từ 1991-2000: Theo Quyết định số 147/QĐ-PPCĐ ngày 23/12/1992 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, KTNN bao gồm các DNNN và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu bằng NSNN. Trong đó, DNNN là các đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị xã hội sở hữu 100% vốn, được thành lập và hoạt động theo Luật DN Nhà nước.

DNNN được chia theo cấp quản lý: DNNN Trung ương và DNNN địa phương. Còn các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp dựa chủ yếu vào NSNN; bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công như nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá thể dục thể thao... Các đơn vị, tổ chức chính trị và chính trị xã hội như Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... Các tổ chức xã hội nghề nghiệp như: Hội Nhà văn, Hội Điện ảnh, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, Hội Nhà báo, Hội Nghệ sỹ Sân khấu, Hội Luật gia...

Giai đoạn từ 2001-2010, KTNN gồm: Các DNNN, DN của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật DNNN. Các công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu vốn là Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Các công ty cổ phần được cổ phần hoá từ DNNN hoặc một bộ phận của DNNN, đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần trở lên hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.

Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp: bao gồm các đơn vị kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực hành chính sự nghiệp mà kinh phí hoạt động dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước; các đơn vị này bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương (cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp); các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công đang hoạt động trong lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao...

Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, khi Luật DNNN bị xoá bỏ, các DNNN thực hiện chuyển đổi sang dạng DN hoạt động theo Luật DN, thì KTNN hiện bao gồm: Các DNNN 100% vốn Nhà nước đã chuyển đổi hình thức theo Luật DN và phần vốn và tài sản Nhà nước trong các DN khác đang hoạt động theo Luật DN.

Các quỹ và tài sản quốc gia khác (tài chính và phi tài chính) thuộc sở hữu Nhà nước và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước (các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công về nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao…, cũng như các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, công đoàn, Hội Cựu chiến binh..., và các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Liên minh hợp tác xã, Hội Nhà văn...

Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, DNNN được quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991). Theo Luật DNNN 2003, Điều 1. “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Sau khi Luật DN được ban hành năm 2005, thì DNNN được hiểu là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.

Theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN thì “DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên” .

Nghị định 99/2012/NĐ-CP còn khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào DN. Nhà nước chỉ đầu tư vốn, tài sản vào DN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để KTNN thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Với giá trị to lớn về tài sản vật chất và phi vật chất, có thể nói, vai trò chủ đạo của KTNN là đuơng nhiên, không thể phủ nhận và không thể thay thế bởi bất kỳ thành phần kinh tế phi Nhà nước nào khác. Hơn nữa, nếu trước Đổi mới, chỉ có thành phần KTNN là chủ yếu, nên DNNN cũng đồng thời có vai trò chủ đạo trong khu vực DN xã hội. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế đa thành phần và quá trình hội nhập, các DNNN sẽ ngày càng giảm dần vai trò chủ đạo theo nghĩa truyền thống. Đồng thời, vai trò chủ đạo của KTNN, do đó, của DNNN đang có sự biến đổi theo hướng, từ chủ đạo tuyệt đối về lượng, lĩnh vực kinh doanh, sang chỉ chủ đạo trong lĩnh vực mà tư nhân không thể, không muốn đảm nhiệm và nhà nước cần độc quyền.

Nói cách khác, DNNN ngày càng giảm dần vai trò của mình trong nền kinh tế vì lợi nhuận, ngày càng thu hẹp sự chủ đạo từ phạm vi toàn bộ nền kinh tế chỉ còn vào một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt. Đồng thời, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN trong thời gian tới cũng cần được nhấn mạnh vào các nội dung và mục tiêu: Nắm giữ các tài sản, tổ chức các hoạt động độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bao an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn  vốn ngoài ngân sách Nhà nước.

Ngộ nhận 2: Đồng nhất cơ chế quản lý DNNN giữa nhiệm vụ kinh doanh vị lợi nhuận với nhiệm vụ công ích

Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh tế của Nhà nước, và do đó của DNNN, luôn có 2 mục tiêu với 2 tính chất khác nhau, đó là mục tiêu kinh doanh thông thường như các DN khác, và mục tiêu công ích đặc trưng riêng có của mình.

Vì vậy, cần xác định rõ theo các hệ tiêu chí đồng bộ và khoa học về tính chất kinh doanh và tính chất công ích của DNNN; từ đó làm rõ cơ chế quản lý phù hợp đáp ứng mục tiêu kinh tế-xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

Đây cũng là điểm nút để giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán và đánh giá các hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các DN trong thực tiễn cả quản lý Nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN, khiến các DNNN không hoạt động hiệu quả như mong muốn và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.

Đồng thời, sự bình đẳng giữa các DNNN với các DN khác ngày càng được khẳng định theo Luật Doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh, hoặc theo Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư Công (đang được xây dựng), với yêu cầu ngày càng mở rộng sự tham gia của các DN khác vào thực hiện các hoạt động công ích được tài trợ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo nguyên tắc khuyến khích đấu thầu công khai và bình đẳng, giảm thiểu tình trạng khép kín, sự chi phối của lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ… như tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Đại hội XI đã chỉ rõ.

Ngộ nhận 3: Đồng nhất cải cách DNNN với làm suy yếu khu vực DNNN và KTNN

Dù có xu hướng ngày càng giảm thiểu, thu hẹp, song như kinh nghiệm thế giới chỉ ra, tái cơ cấu và đổi mới quản lý DNNN trong bối cảnh mới không phải là làm suy yếu và dần xóa bỏ triệt để các DN và khu vực kinh tế này mà là làm cho chúng ngày càng hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn và đóng góp nhiều hơn cho kinh tế quốc gia theo nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Tính đến tháng 8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 17 tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước quan trọng (Tổng công ty 91); đã phê duyệt 100/101 phương án sắp xếp, đổi mới DN của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2015. Số lượng DNNN đã giảm mạnh, đến đầu năm 2013 cả nước còn 1.284 DN 100% vốn Nhà nước. Hiện có gần 50% số địa phương không còn DNNN kinh doanh thuần túy. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào các công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước-tư nhân tăng mạnh. Năm 2012 cả nước có trên 1900 công ty cổ phần có cổ phần Nhà nước chiếm trên 50% tổng số cổ phần phổ thông phát hành tại thời điểm cổ phần hóa.

Tuy nhiên, khu vực DNNN vẫn đang chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư, 70% viện trợ phát triển chính thức và sử dụng 60% vốn vay từ các ngân hàng thương mại, chiếm khoảng 30% GDP hằng năm.

Trong triển vọng, có thể và cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP; đẩy nhanh hơn tốc độ cổ phần hóa và không nên để quá nhiều DNNN nắm cổ phần quá cao.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: kinh tế Nhà nước , doanh nghiệp nhà nước , Luật Doanh nghiệp nhà nước , cổ phần hóa , kinh tế thị trường , hội nhập quốc tế , vốn điều lệ , Luật Đấu thầu , Luật Đầu tư Công Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Thứ bảy 08/02/2014 15:00 (Tài chính) Trong Thông điệp đầu năm, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ quan trọng trong năm 2014 là phải kiên quyết thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là cổ phần hóa, kể cả các tập đoàn kinh tế. Bộ Tài chính cũng đã đề ra 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu DNNN.
Ảnh minh họa. Nguồn: internet.
Tái cơ cấu để tăng cường sức mạnh kinh tế Nhà nước địa chỉ học kế toán tổng hợp
Người đứng đầu Chính phủ đã đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện tái cơ cấu DNNN. Thủ tướng yêu cầu cần thực hiện thoái vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn mà Nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường, bao gồm cả doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả. DNNN chỉ tập trung vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng và quốc phòng an ninh. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích. Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.
Thủ tướng đề nghị tiếp tục tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu nhà nước; Kiện toàn cán bộ quản lý và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; Thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động của DNNN theo quy định của pháp luật.
Những hành vi vi phạm pháp luật và không nghiêm túc thực hiện Đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt sẽ bị xử lý nghiêm.
"Chỉ có như vậy, chúng ta mới tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng và nâng cao được hiệu quả hoạt động của DNNN, tăng cường sức mạnh của kinh tế nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu nền kinh tế", Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh.
Về tiến độ triển khai Đề án tái cơ cấu của các Tập đoàn, Tổng công ty, Bộ Tài chính cho biết, tính đến cuối năm 2013, đã có 83/91 Tập đoàn, Tổng công ty (không bao gồm 18 Tổng công ty thuộc Bộ Quốc phòng) xây dựng Đề án tái cơ cấu, trong đó có 63 doanh nghiệp đã được phê duyệt Đề án gồm 57 doanh nghiệp thuộc Trung ương, 6 doanh nghiệp thuộc địa phương (còn 8/91 đơn vị chưa báo cáo việc xây dựng Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp).
Sau khi Đề án tái cơ cấu được phê duyệt, các doanh nghiệp đã tích cực triển khai và bước đầu đạt được những kết quả cụ thể. Các doanh nghiệp đang triển khai phương án sắp xếp lại cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý điều hành, đẩy mạnh việc tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thành viên theo đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt, như Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam đã chuyển 6 Công ty TNHH MTV sản xuất than thành Chi nhánh của Tập đoàn, gồm các Công ty than Mạo Khê, Nam Mẫu, Dương Huy, Thống Nhất, Khe Chàm; đã phối hợp cùng Bộ Quốc phòng bàn giao Tổng công ty Đông Bắc về Bộ Quốc phòng quản lý toàn diện kể từ 1/1/2014.
Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã kết thúc mô hình Tập đoàn, chuyển thành Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy với mô hình mới bao gồm: Công ty mẹ - Tổng công ty và 8 Công ty con 100% vốn nhà nước. Thực hiện bán giải thể, phá sản 165 doanh nghiệp. Phấn đấu hoàn thành trong năm 2015 việc sắp xếp các doanh nghiệp không được giữ lại...
Nhiều quy định mở, gỡ vướng thoái vốn
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, đồng thời đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu DNNN, trong năm 2014 Bộ Tài chính sẽ triển khai thực hiện đồng bộ 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Trong đó, sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý DNNN. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Luật, Nghị định về Quản lý và sử dụng vốn nhà nước để xác định rõ phạm vi, đối tượng, hình thức và thẩm quyền đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, trên cơ sở đó phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong quá trình hoạt động cũng như căn cứ pháp lý để hoàn thiện các cơ chế, chính sách có liên quan
Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành khẩn trương trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản về cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo danh mục nhiệm vụ xây dựng thể chế, cơ chế, chính sách của các bộ, ngành ban hành kèm theo Quyết định số 929/QĐ-TTg như Nghị định về quản lý nợ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, các quy định về đổi mới quản trị doanh nghiệp, các hình thức sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp ngoài hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp...
Nhóm giải pháp thứ hai, Bộ Tài chính sẽ tập trung hoàn thiện các cơ chế chính sách về chuyển đổi, cổ phần hóa DNNN. Trong đó, sẽ ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo tinh thần Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa giai đoạn 2011- 2015 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về: giao, bán, thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà nước phù hợp với Luật Doanh nghiệp để tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, ngành, địa phương, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thực hiện sắp xếp lại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Rà soát hoàn thiện chính sách đối với người lao động dôi dư trong doanh nghiệp sắp xếp, cổ phần hóa.
Nhóm giải pháp thứ ba, đó là đẩy nhanh tiến độ thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 929/QĐ-TTg.
Ngoài các giải pháp thoái vốn theo quy định, Bộ Tài chính còn ban hành một số quy định theo hướng thông thoáng hơn. Đó là, thực hiện thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính dưới mệnh giá sau khi đã bù trừ dự phòng tổn thất khoản đầu tư tài chính theo quy định trên cơ sở phương án thoái vốn đã được chủ sở hữu xem xét, chấp thuận.
Đồng thời, cho phép chuyển nhượng các khoản đầu tư tại các công ty cổ phần chưa niêm yết có giá trị tính theo mệnh giá từ 10 tỷ đồng trở lên không nhất thiết phải thực hiện đấu giá qua Sở Giao dịch chứng khoán. Doanh nghiệp được lựa chọn thuê tổ chức tài chính trung gian (các công ty chứng khoán) bán đấu giá, hoặc tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp.
Nhóm giải pháp thứ tư được Bộ Tài chính tập trung thực hiện đó là, tái cấu trúc thị trường chứng khoán theo tinh thần Quyết định số 1826/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời bổ sung các chính sách để thu hút, bảo vệ nhà đầu tư và tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp.
Thứ năm, theo chỉ đạo của Chính phủ, sẽ thực hiện gắn trách nhiệm của Người đứng đấu với kết quả tổ chức thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Công ty, Tổng giám đốc Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, DNNN xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của Đề án tái cơ cấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Định kỳ hàng quý phải báo cáo tình hình triển khai Đề án tái cơ cấu của doanh nghiệp cho Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh và Bộ Tài chính đồng thời báo cáo Chính phủ các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện để xem xét, tháo gỡ kịp thời. Trường hợp chậm trễ tổ chức triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu, không có báo cáo đầy đủ, kịp thời theo thời gian quy định thì được xác định là không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định tại quy chế giám sát và phân loại doanh nghiệp của Chính phủ.
Tái cơ cấu về tài chính, các Tập đoàn, Tổng công ty đã từng bước xử lý những tồn tại về tài chính trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt như tăng vốn điều lệ từ nguồn chênh lệch tăng do thí điểm kiểm kê, đánh giá lại tài sản (Tập đoàn Điện lực Việt Nam); sử dụng các nguồn vốn hợp pháp hiện có để tăng vốn điều lệ (Tập đoàn Hoá chất); đàm phán với các nhà cung cấp tín dụng để cơ cấu lại các khoản vay (Vinashin); thoái vốn đầu tư ngoài ngành nghề kinh doanh chính, đặc biệt là các khoản đầu tư trong các lĩnh vực chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng và bất động sản... (Nguồn: Bộ Tài chính) Theo baohaiquan.vn Từ khóa: tái cơ cấu , thoái vốn , doanh nghiệp nhà nước , vốn nhà nước , tổng công ty , Bộ Tài Chính , tập đoàn kinh tế , cơ chế , chủ sở hữu Các tin đã đưa 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Thế cờ bán lẻ 2014 Những chiêu đòi nợ “độc” của ngân hàng “Điểm mặt” những ông lớn bất động sản khai sinh năm Ngọ Không vội vã "Tân trang" cho nợ xấu… Nhiều công ty tài chính đang mất vốn Sản xuất nhộn nhịp đầu năm Ngành ngân hàng: Câu chuyện chỉ mới bắt đầu Doanh nghiệp Việt bước vào giai đoạn mới Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng
Họ và tên:  (*) 
Địa chỉ Email:   (*)
    Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR  Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh
Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014. Đọc nhiều nhất Lưu ý một số điểm mới tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về thuế Thu nhập cá nhân Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 Hướng dẫn cách tính thuế Thu nhập cá nhân mới nhất năm 2014 Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Không vội vã Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Doanh nghiệp đổ vỡ do “lợi trước mắt”

Doanh nghiệp đổ vỡ do “lợi trước mắt”

Thứ tư 15/01/2014 13:15

(Tài chính) Hơn 200 nghìn doanh nghiệp (DN) phá sản, ngừng hoạt động trong 4 năm qua là điều khiến ai cũng đau xót. Ngoài yếu tố khách quan, DN rơi vào khó khăn còn vì những lý do chủ quan.

Nhiều DN đổ xô đầu tư bất động sản nhưng nay bỏ hoang. Nguồn: internet

“Tính xấu” của DN Việt

Khi đánh giá về cách làm ăn của một bộ phận DN Việt, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh đã dành những lời nhận xét nghiêm khắc: DN Việt Nam rất kì lạ, họ muốn phát triển nhưng không muốn nghiên cứu, không muốn mất nhiều chi phí đào tạo, cải tiến, tư duy chộp giật rất mạnh mẽ. Phần lớn trong số hơn 60 nghìn DN giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2013 đã bị “sập bẫy” do chính họ đặt ra.

Ông Nghĩa dẫn chứng: Có DN sản xuất bao bì xuất khẩu, kí được nhiều hợp đồng xuất khẩu tới năm 2014, nhưng cách đây 3 năm họ lại đầu tư cả bất động sản. Thị trường gặp khó khăn đã khiến DN này có nợ xấu hơn trăm tỉ đồng ở ngân hàng khiến ngân hàng phải “cắt” tín dụng. Lại có bộ phận DN xây dựng xong nhà máy là lao đao. Chúng tôi khảo sát ở Hà Nội, có tới 24% số nhà máy xây xong không đi vào hoạt động được.

Lí do là chủ DN muốn xây dựng các nhà máy hoành tráng trong khi vốn tự có ít, phải đi vay ngắn hạn ngân hàng. Cho nên khi nhà máy hoàn thành cũng là lúc ông chủ hết tiền, không còn vốn lưu động. Ngân hàng cắt vốn nên nhà máy nằm phơi nắng phơi mưa. Lại có DN làm dự án rất lãng mạn, hoành tráng về sinh thái, với ý tưởng viển vông. Họ vay vốn ngân hàng lao vào dự án hàng trăm héc-ta đất rồi nằm im.

Cùng chung suy nghĩ về “tính xấu” của nhiều DN Việt, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng: Thất bại của hàng loạt DN vừa qua có phần là do làm ăn chộp giật, nghĩ ngắn hạn. Bản thân cách làm ăn như vậy chứa đựng đầy rủi ro. Khi không tiết chế được lòng tham, ham chạy theo phong trào, DN sẽ “chết” ngay lập tức. Cho nên phải thay đổi.

“Thay đổi” là thông điệp bà Phạm Chi Lan muốn gửi gắm tới một thế hệ doanh nhân mới. Trong một dịp trò chuyện với hàng trăm sinh viên ở Hà Nội cuối tuần qua, bà Phạm Chi Lan cũng không quên nhắn nhủ: Các bạn có thể có cơ hội làm giàu dễ dàng, nhanh chóng nhờ các mối quan hệ thân quen, nhưng nếu dám mạnh dạn từ chối và nghĩ đến đường dài thì các bạn nên chấp nhận từ bỏ lợi ích ngắn hạn đó để tìm cơ hội dành riêng cho mình.

Như thế các bạn sẽ thấy chân trời rộng hơn nhiều và còn nhiều dư địa để làm. Chẳng hạn với ngành dệt may, để kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 50 tỉ USD vào năm 2030 thì không thể chỉ dựa vào những người đạp máy khâu, mà phải có người làm ra sợi chỉ, thêu ren và các phụ kiện liên quan khác. Các bạn chỉ cần làm ra sợi chỉ thật tốt để cung cấp cho nhà máy may thì có thể thành công rồi.

Đừng nghĩ ảo vọng, thật to, thật hoành tráng. Bắt đầu chỉ nên từ những điều nhỏ nhoi, như vậy mới vững chắc hơn là đi bước nhảy vọt vượt quá sức mình”.

Bà Phạm Chi Lan

“Đừng nghĩ ảo vọng, thật to, thật hoành tráng. Bắt đầu chỉ nên từ những điều nhỏ nhoi, như vậy mới vững chắc hơn là đi bước nhảy vọt vượt quá sức mình” - bà Lan nhấn mạnh.

Tự lượng sức mình

TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng: DN phải nghĩ ra ý tưởng riêng, rồi tìm người có kinh nghiệm hợp tác, xây dựng dự án một cách chi tiết, thẩm định nghiêm túc, cho dù dự án đó rất nhỏ. Không nên vay ngân hàng hàng chục, hàng trăm tỉ đồng để làm một dự án mà không tính toán kĩ. Đầu tư sai là sẽ thất bại. Hãy bỏ tư duy vay vốn để làm giàu nhanh chóng, tay không bắt giặc. Hơn hết, DN cần phải biết tự lượng sức mình.

Theo quan niệm của các chuyên gia, vốn của DN không chỉ là tiền, là đất đai. Bà Phạm Chi Lan khẳng định: Không phải có đất là có tất cả. Vốn quan trọng nhất của DN là con người. Người làm DN cần có ý chí kinh doanh, sáng kiến tốt. Cùng với ý chí mạnh mẽ, người khởi nghiệp cần quyết tâm đi theo con đường đã chọn, chấp nhận rủi ro. Đó là vốn quan trọng hàng đầu phải có. Ngoài ra, có được đội ngũ cộng tác giỏi giang, nhiệt huyết thì DN sẽ thành công được. “Hiện nay, hợp lí nhất là trông chờ vào sức mình, phải kiên trì, cố gắng, nhẫn nại” - bà Phạm Chi Lan khẳng định.

Chia sẻ với những người đã, đang và sẽ tham gia thương trường đầy khốc liệt, TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương cho rằng: Các DN phải tập trung điều tra kĩ lưỡng thị trường, công nghệ, nguồn lao động, tích lũy kinh nghiệm từ các bài học nhỏ để dần vững mạnh và quan trọng nhất là không được e dè, sợ hãi trước khó khăn.

Theo TS. Lê Đăng Doanh, bên cạnh các DN khó khăn, đóng cửa, phá sản, có một số ít DN Việt Nam đang tiếp tục cạnh tranh và phát triển tốt. Vinamilk là điển hình, kết quả kinh doanh của DN này rất ấn tượng. Công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông mỗi năm cũng vẫn tăng trưởng 13-15%. Họ đang áp dụng công nghệ làm mỏng đi thân thủy tinh để giảm hao phí năng lượng, cạnh tranh được với đèn Trung Quốc.

Ngoài ra, thương hiệu Gốm sứ Minh Long cũng vẫn đang trên đà phát triển tốt. “Trong khó khăn, tôi muốn nói hãy sáng tạo, tự đổi mới, xem xét tình hình là chìa khóa để phát triển lên” - ông Lê Đăng Doanh chia sẻ.

Lương Bằng

Theo baohaiquan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp , phá sản , ngừng hoạt động , TS. Lê Xuân Nghĩa , xuất khẩu , chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan , Vinamilk Các tin đã đưa Ngân hàng nhỏ: tăng vốn thế nào với vô vàn rào cản? Doanh nghiệp phải tự là “phao cứu sinh” cho chính mình Danh tính các dự án sẽ bị Kiểm toán soi năm 2014 DATC – Tiếp tục chinh phục mục tiêu mới Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Thêm "cửa" xử lý ngân hàng Doanh nghiệp đổ vỡ do “lợi trước mắt” Marketing sự "xấu xí” Cần chuyên nghiệp hơn để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài Doanh thu báo in 2013 tại Việt Nam giảm sút Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Hải quan Quảng Ninh: Triệt phá đường dây buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 28 cá nhân ngành Công an Kinh tế Việt Nam – Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân vững vàng và khối óc minh mẫn Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS