61.000 doanh nghiệp giải thể: Không hẳn là do khủng hoảng kinh tế...

61.000 doanh nghiệp giải thể: Không hẳn là do khủng hoảng kinh tế...

Thứ hai 13/01/2014 14:11

(Tài chính) Để tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp (DN) phải tránh xa cách kinh doanh chộp giật, kiểu làm ăn chạy theo phong trào bởi cách làm đó chỉ thu được lợi ích trước mắt và sẽ nhanh chóng thất bại trước thay đổi của thị trường.

DN phải có tư duy mới và cách tiếp cận mới về tình hình kinh tế thị trường. Nguồn: internet

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ và khuyến cáo DN như vậy tại Tọa đàm "Cạnh tranh toàn cầu và hướng đi cho người khởi nghiệp" do Vietnam New Media Group phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Nhà xuất bản Tri thức và Trung tâm Pháp - Việt đào tạo về quản lý CFVG và Alphabooks vừa tổ chức tại Hà Nội.

Phá sản không chỉ bởi khủng hoảng kinh tế

Tại cuộc Tọa đàm, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng nguyên nhân của con số khổng lồ gần 61.000 DN giải thể và ngừng hoạt động trong năm 2013, không hoàn toàn do khủng hoảng kinh tế mà chủ yếu là do những yếu kém, bất cập của DN. Chính vì vậy mà nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện mức độ khủng hoảng dữ dội hơn cũng như chậm phục hồi hơn hẳn so với nhiều quốc gia trong khu vực.

TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh: Phần lớn các DN thất bại trong năm 2013 là các DN thiếu vốn lưu động và không chịu bỏ chi phí đổi mới do ảnh hưởng nặng nề của tâm lý kinh doanh chộp giật.

Trao đổi về những giải pháp cho DN, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói: DN, nhất là các DN trẻ, phải tự mình chủ động và linh hoạt trước mọi diễn biến của thị trường thay vì trông mong sự hỗ trợ của Chính phủ hay những thay đổi từ cải cách thể chế.Thiếu sự chủ động, DN sẽ bị cạnh tranh quyết liệt và nhanh chóng thất bại.

Đồng tình với quan điểm trên, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh chia sẻ, bên cạnh việc thay đổi kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh của chính phủ, các DN phải tự là "phao cứu sinh" cho chính mình và nền kinh tế bằng những thay đổi, cải cách đầy sáng tạo và khả thi của mình. Sáng tạo, đổi mới là chìa khóa để cạnh tranh thành công.

"DN phải chấp nhận trải qua thử thách, chủ động tiếp cận phương thức kinh doanh mới, sáng tạo và đổi mới công nghệ, để tự mình tìm ra con đường phát triển", bà Phạm Chi Lan chia sẻ thêm.

Vốn quan trọng nhất chính là con người

Trong tham luận tại cuộc Tọa đàm, các chuyên gia kinh tế cũng đã khái quát tình hình nền kinh tế toàn cầu trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai gần. Trong đó, nhấn mạnh về sự kiện Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương - TPP với những cơ hội và thách thức.

Các chuyên gia kinh tế đều kỳ vọng, việc gia nhập TPP sẽ mang lại cho Việt Nam những bước hội nhập sâu và rộng hơn đối với kinh tế thế giới. Đặc biệt, tại chính sân chơi này, Việt Nam sẽ không gặp phải sự cạnh tranh của các đối thủ truyền thống với những mặt hàng xuất khẩu cạnh tranh trực tiếp với nước ta như Thái Lan, Malaisia…

Bên cạnh đó, triển vọng lớn sẽ đến với các mặt hàng xuất khẩu ngành nông sản, chế biến. Đối với lĩnh vực này, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội vươn lên hàng đầu Đông Nam Á.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng sẽ gặp phải nhiều thách thức. Điển hình như: Yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm, vấn đề về sở hữu trí tuệ, dược phẩm, lao động trẻ em, tổ chức công đoàn…

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, nền kinh tế toàn cầu đã có sự hội nhập sâu rộng nên đã đến lúc DN phải có tư duy mới với cách tiếp cận mới, góc nhìn mới về tình hình kinh tế thị trường, tránh tình trạng "chờ sung rụng".

Bàn sâu về vấn đề đổi mới, các chuyên gia đánh giá, từ trước tới giờ DN vẫn than vãn nhiều về vốn, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, máy móc lạc hậu…Song, vấn đề quan trọng không chỉ ở tiền, cũng không phải chỉ ở máy móc. Quan trọng hơn chính là khả năng và trí tuệ của con người. Đó mới là nhân tố sống còn quyết định sự thành bại của DN.

"Chỉ có những sáng tạo, ý chí vượt khó và đoàn kết của đội ngũ nhân sự vững vàng mới tạo nên sức mạnh và thành công cho DN. Vốn quan trọng nhất chính là con người và tư duy của con người", bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh.

Tham gia TPP, hàng dệt may xuất khẩu vào Mỹ thuế suất giảm xuống còn 0% thay vì 17,8% như hiện nay. Kim ngạch xuất khẩu dệt may có thể lên đến lên 20 tỉ USD vào năm 2020 và 50 tỉ USD vào năm 2030, nên khi thuế suất bằng 0%, đó sẽ là triển vọng lớn cho ngành này, TS Lê Đăng Doanh phân tích tại cuộc Tọa đàm.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn

Từ khóa: phát triển bền vững , doanh nghiệp , khủng hoảng kinh tế , lợi ích , phá sản , vốn đầu tư , sản xuất kinh doanh , xuất khẩu , cạnh tranh Các tin đã đưa 61.000 doanh nghiệp giải thể: Không hẳn là do khủng hoảng kinh tế... 8 lỗi các doanh nhân mới lập nghiệp thường mắc Nhanh nhạy để “chớp” cơ hội đầu tư Ba cây chụm lại... Khuyến khích các tổ chức tín dụng sáp nhập, hợp nhất Kinh nghiệm quản trị quan hệ khách hàng cho các doanh nghiệp Việt Nam Chủ tịch VAMC: “Tôi không có gì phải nuối tiếc…” Chuyển mình để thích nghi và tồn tại Kế hoạch 2014: Thay chiến lược hay đổi chiến thuật? Tết ngàn tỷ của đại gia bậc nhất 2013 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Giới đầu tư thế giới đổ về châu Á tìm cơ hội đầu tư Công bố tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp Thưởng Tết 2014 của khối ngân hàng: Không còn "khủng" Không có chuyện “làm xiếc” hay “xào xáo” số liệu! Bộ Tài chính gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Kinh tế thế giới hậu khủng hoảng và những tác động đến Việt Nam

Kinh tế thế giới hậu khủng hoảng và những tác động đến Việt Nam

Thứ hai 13/01/2014 14:27

KHƯƠNG DUY - Viện Kinh tế và Chính trị thế giới

(Tài chính) Sau 5 năm đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, hiện nay các nền kinh tế thế giới đã vượt qua cơn “đại suy thoái” thế kỷ lần thứ hai kể từ giai đoạn 1929 - 1933 và đang lấy lại đà tăng trưởng. Bài viết đề cập tới việc các nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc), khu vực Eurozone và các nước mới nổi vượt qua khủng hoảng và một số tác động đến Việt Nam.

Các nền kinh tế lớn vượt qua khủng hoảng

Mỹ

Sau thời kỳ khủng hoảng vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009, nền kinh tế Mỹ đang lấy lại đà tăng trưởng. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ gần đây đã giảm từ 10% cuối năm 2009, xuống còn 7,2% vào quý III/2013; thị trường bất động sản phục hồi và ổn định… Kinh tế Mỹ có được kết quả trên là nhờ vào các yếu tố sau:

Thứ nhất, Chính quyền G. Bush đã “bơm” gói cứu trợ lớn nhất trong lịch sử trị giá lên tới 700 tỷ USD, nhằm giải quyết các tài sản xấu trong khu vực tài chính (chủ yếu là chứng khoán cho vay cầm cố), trợ giúp tài chính thông qua mua cổ phần nâng vốn, thay đổi quản lý và lãnh đạo các công ty. Kết thúc chương trình cứu trợ vào ngày 21/7/2010, gói cứu trợ này đã làm cho khu vực tài chính và ngân hàng cho vay trở lại;

Thứ hai, gói kích thích kinh tế trị giá 831 tỷ USD của chính quyền Tổng thống B. Obama vào tháng 01/2009, để chi cho các hạng mục cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, giáo dục; hỗ trợ dân chúng gặp khó khăn; giảm thuế và mua hàng hoá và dịch vụ;

Thứ ba, các chương trình giải cứu khu vực tài chính và cung tiền mạnh mẽ chưa từng có của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Cụ thể, FED đã chi 29 tỷ USD cho Jase P. Morgan mua lại Tập đoàn tài chính Bear Stern, chi 182 tỷ USD để giải cứu Tập đoàn tài chính AIG. Bên cạnh đó, FED cũng đã có hàng loạt các động thái khác như các chương trình nới lỏng định lượng, các quyết định cắt giảm lãi suất... nhằm hỗ trợ nền kinh tế Mỹ hồi phục.

Châu Âu

“Căn bệnh” nợ công ở châu Âu bắt đầu bùng phát từ Hy Lạp (đầu năm 2009) khi nước này tiết lộ mức thâm hụt ngân sách lên tới 13,6% GDP. Sau đó nợ công đã nhanh chóng lan sang các nước khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia và Pháp.

Điển hình ở Tây Ban Nha, vấn đề nghiêm trọng nhất là khu vực ngân hàng với đống nợ xấu lên tới 300 tỷ Euro (441 tỷ USD).

Thời kỳ này, khu vực Eurozone phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: Khủng hoảng nợ công và khủng hoảng hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ Tây Ban Nha. Để giải quyết những nhiệm vụ này, sau nhiều nỗ lực, ngày 11/7/2011, Eurozone thống nhất thành lập Cơ chế Ổn định châu Âu (ESM) nhằm cứu trợ các nền kinh tế trong khu vực thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công.

Điều đáng nói, sau gần 1 năm ra đời thì đến tháng 12/2012, ESM mới chính thức được vận hành. Hệ quả là lòng tin của các nhà đầu tư ở khu vực này bị hủy hoại nghiêm trọng. Châu Âu thực sự có hy vọng khi ông Mario Draghi – Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) điều chỉnh chính sách: (i) Cắt giảm mạnh lãi suất đồng Euro từ 0,75%/năm xuống còn 0,5% từ tháng 4/2013 và sau đó hạ tiếp còn 0,25%/năm; (ii) Mua trái phiếu của các chính phủ gặp khó khăn về nợ công; (iii) Cung ứng tiền giá rẻ cho các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản một cách trực tiếp mà không cần phải thông qua chính phủ…

Với những thay đổi lớn trong chính sách và biện pháp giải cứu, châu Âu đã vượt qua khủng hoảng nợ công và loại bỏ nguy cơ đổ vỡ khối Eurozone. Niềm tin của nhà đầu tư đã quay trở lại và tăng trưởng kinh tế đã ổn định hơn (xem biểu đồ 1).

Mặc dù mức tăng trưởng của Eurozone còn âm nhưng dự báo khu vực này sẽ kết thúc thời kỳ khủng hoảng trong quý IV/2013 hoặc trong quý I/2014.

Trung Quốc

Khác với các nước trên, khi khủng hoảng kinh tế nổ ra, Trung Quốc đã nhanh chóng "tung ra" gói kích thích kinh tế khổng lồ lên tới 586 tỷ USD vào ngày 9/11/2008 để bù đắp sự sụt giảm mạnh trong xuất khẩu, do khủng hoảng ở các thị trường lớn (Mỹ và châu Âu). Với gói kích thích kinh tế nói trên, nền kinh tế Trung Quốc đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng và vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Tuy nhiên, nền kinh tế này sau đó đã bộc lộ nhiều vấn đề đáng lo ngại. Tốc độ tăng trưởng GDP của quý I/2010 đã lên tới 11,9%, chỉ kém đỉnh cao nhất của thập kỷ 13% vào quý I/2007 (xem biểu đồ 2). Điều đặc biệt là tốc độ tăng trưởng này đạt được từ mức thấp hơn 6% hồi đầu năm 2009. Mức lạm phát có khuynh hướng tăng ngày cành nhanh khi mà cuối năm 2010 đã vượt mức 4% và tiếp tục tăng nhanh lên mức 6,5% vào giữa năm 2011.

Tuy nhiên, để đảm bảo quá trình tăng trưởng thực sự bền vững, Trung Quốc đã có những cải cách căn bản sau: (i) Chấp nhận giảm tốc độ tăng trưởng (sẽ cố gắng duy trì ở mức 7,5%) để chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào thị trường trong nước (tăng tiêu dùng) thay vì chỉ dựa vào xuất khẩu; (ii) Nâng cao hoặc thay đổi công nghệ sang thế hệ mới nhằm tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm ô nhiễm môi trường; (iii) Cùng với phát triển công nghệ cao, là phát triển lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính. Mục đích của Trung Quốc là nhắm tới việc thiết lập các “khu thương mại tự do”, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước, nhằm tạo ra những khuyến khích mới dòng vốn quốc tế.

Nhật Bản

Tháng 3/2011, Nhật Bản đã trải qua thảm họa thiên tai kép động đất và sóng thần đã gây tổn hại lớn cho nhà máy điện hạt nhân ở Fukishima. Những tổn thất nặng nề này đã nhấn chìm nền kinh tế lớn thứ ba thế giới vào suy thoái sau hơn “một thập kỷ mất mát” gần như không có tăng trưởng. Tăng trưởng trong nước sụt giảm mạnh, hệ thống năng lượng quốc gia bị đình đốn. Kế hoạch tái thiết đất nước mạnh mẽ với khoản chi lên tới 167 tỷ USD cho 5 năm đã đưa nền kinh tế Nhật nhanh chóng thoát ra khỏi suy thoái chỉ sau ba quý tăng trưởng âm.

Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã tuyên bố sẽ thực thi chính sách làm đồng Yên suy yếu và duy trì mức lạm phát mục tiêu trong nước ở mức 2%. Công cụ để thực thi chính sách nói trên là nới lỏng chính sách tiền tệ và tăng chi tiêu ngân sách cho các hạng mục cơ sở hạ tầng, trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm quy mô của khu vực nhà nước dành phần cho tư nhân. Ý đồ chủ yếu của chính sách này là nhằm tăng sức cạnh tranh của xuất khẩu của Nhật Bản (nhờ giảm giá đồng Yên khoảng 10%), đồng thời tăng nhu cầu trong nước (đến nay chỉ số lạm phát đã đạt được là 1,9%).

Các nền kinh tế mới nổi

Các nền kinh tế mới nổi đã nhanh chóng đưa ra các gói kích thích tăng trưởng sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính và hầu hết các nền kinh tế mới nổi đã đạt được những thành công nhất định (Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia và Việt Nam).

Tuy nhiên, không lâu sau, những gói kích thích kinh tế của các nước trong khu vực này đã phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát gia tăng. Lý do là cấu trúc của các nền kinh tế mới nổi về cơ bản là thiếu bền vững, kém hiệu quả, lệ thuộc vào xuất khẩu kéo dài. Vì vậy, kích thích kinh tế nhanh chóng làm nảy sinh lạm phát. Nâng lãi suất, chấp nhận tăng trưởng chậm lại, một lần nữa đã trở thành “làn sóng” ở nhiều nền kinh tế mới nổi.

Cùng với đó, các nền kinh tế mới nổi còn chịu ảnh hưởng lớn của Mỹ khi FED phát tín hiệu sẽ tạm dừng các chương trình nới lỏng định lượng (QE). Sự thay đổi chính sách tiền tệ của FED theo hướng giảm dần cung tiền gây bất ổn cho một số đồng tiền và kinh tế vĩ mô của một số nước như: Brazil, Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc.

Đồng tiền nội tệ của các nước này mất giá trầm trọng. Từ tháng 1 - 10/2013, đồng rupee của Ấn Độ mất giá hơn 20%, đồng rupiah của Indonesia mất giá 18,75%, đồng real của Brazil mất giá 15%... Sự mất giá của các đồng tiền ở các nền kinh tế mới nổi đang gây bất ổn tới nền kinh tế vĩ mô không nhỏ.

Triển vọng và rủi ro trung hạn

Hiện nay, kinh tế thế giới vẫn đang trong quá trình khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và hướng tới sự phục hồi chắc chắn, bền vững. Điểm sáng duy nhất còn lại trong lúc nổ ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu có lẽ là sự năng động của các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi ở châu Á với sự góp mặt của Trung Quốc.

Những chương trình giải cứu nền tài chính "mạnh tay" của FED, cũng như những chương trình kích thích lớn chưa từng thấy của Chính phủ Mỹ, chính là những nguyên nhân cơ bản đưa nền kinh tế lớn nhất thế giới nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng và trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Đó cũng chính là động lực cơ bản nhất dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng, kéo dài.

Mặc dù có được những thành công lớn trong việc giải quyết và thoát khỏi khủng hoảng, nền kinh tế toàn cầu vẫn cần được giám sát cẩn trọng vì sự phục hồi mới chỉ bắt đầu và chưa hoàn toàn chắc chắn. Bên cạnh đó, những rủi ro gây bất ổn vẫn còn, thậm chí một số rủi ro mới dường như đang xuất hiện gây không ít quan ngại cho tăng trưởng của kinh tế toàn cầu trong tương lai. Đó chính là sự tăng trưởng yếu ớt của khu vực Eurozone.

Bên cạnh đó, giá BĐS tăng quá nhanh ở nhiều nơi trên thế giới (London, Singapore, Dubai, Trung Quốc, Hồng Kông, Australia, Newzealand, Brazil và Mỹ) đang gây không ít lo ngại. “Bong bóng” BĐS ở những nơi đó có thể vượt tầm kiểm soát và gây ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu mới...

Một số tác động đến Việt Nam

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, có thể khẳng định những tác động đến xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là không đáng kể.

Thực tế cho thấy, kể từ khi kinh tế thế giới khủng hoảng, xuất khẩu của Việt Nam vẫn không ngừng tăng. Lý do hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là hàng thiết yếu có độ co giãn cầu với thu nhập thấp.

Tuy nhiên, nếu nhìn về tương lai Việt Nam có thể chịu nhiều tác động từ những biến động trong khu vực hơn là từ Mỹ và châu Âu. Những tác động đó bao gồm:

Thứ nhất, tác động từ cải cách ở Trung Quốc: (i) tín dụng ở Trung Quốc sẽ không còn rẻ và dễ dãi như trước, lương sẽ tăng, đồng nhân dân tệ sẽ tiếp tục lên giá. Điều này có lợi cho kinh tế Việt Nam theo nghĩa áp lực cạnh tranh từ phía Trung Quốc đối với hàng hoá Việt Nam sẽ giảm bớt; (ii) Trung Quốc sẽ không còn hấp dẫn nhà đầu tư quốc tế như là một nơi đầu tư có chi phí thấp như trước nữa. Trên thực tế đã xuất hiện hiện tượng di chuyển cơ sở sản xuất của công ty đa quốc gia ra khỏi Trung Quốc. Việt Nam có thể hưởng lợi từ hiệu ứng này nếu chúng ta có các chính sách ưu đãi, hấp dẫn, thu hút vốn FDI của các tổ chức nước ngoài.

Thứ hai, Nhật Bản và Hàn Quốc đang có chiều hướng đầu tư lớn vào Việt Nam. Năm 2011, Nhật Bản có 234 dự án, chiếm 25% tổng FDI vào Việt Nam; năm 2012 có 317 dự án, tổng giá trị 5,6 tỷ USD, chiếm 50% tổng FDI vào Việt Nam; tính từ đầu năm 2013 đến nay số vốn cấp mới và tăng thêm là 4 tỷ USD. Nhật Bản cũng là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam (chiếm hơn 30%).

Trong khi đó, Hàn Quốc được coi là đối tác đầu tư chiến lược của Việt Nam trong việc thực hiện, triển khai các dự án đầu tư tại địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Bắc Ninh. Như vậy, Việt Nam là một căn cứ thuận lợi, dễ tiếp cận và kiểm soát của Nhật Bản và Hàn Quốc trong quá trình di chuyển căn cứ sản xuất ra bên ngoài của hai nước này. Điều này có ý nghĩa lớn về tăng trưởng, việc làm và công nghệ trong tương lai, đặc biệt trong bối cảnh có sự cạnh tranh từ Campuchia và Mianmar đang tăng lên.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 12 - 2013

Từ khóa: kinh tế thế giới , khu vực Eurozone , khủng hoảng , Mỹ , Nhật Bản , Trung Quốc , Châu Âu , đà tăng trưởng , nền kinh tế mới nổi , Việt Nam Các tin đã đưa Thống nhất sử dụng cách tính chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước Kinh tế thế giới hậu khủng hoảng và những tác động đến Việt Nam Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam "Chúng ta còn nợ nông dân" Sửa Luật Doanh Nghiệp: Tạo hành lang pháp lý đầy đủ hơn “Doanh nghiệp trẻ cần bỏ kiểu kinh doanh chộp giật” Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn FDI 2014: Đừng quên dòng chảy hội nhập! Ổn định ngân hàng qua góc nhìn từ chi phí Cần sớm triển khai thí điểm thực hiện chính sách Bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Giới đầu tư thế giới đổ về châu Á tìm cơ hội đầu tư Công bố tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp Thưởng Tết 2014 của khối ngân hàng: Không còn "khủng" Không có chuyện “làm xiếc” hay “xào xáo” số liệu! Bộ Tài chính gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS