Một chặng đường, nhiều giải pháp

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2011- 2015:

Một chặng đường, nhiều giải pháp

Thứ hai 24/02/2014 14:00

PGS., TS. TÔ ĐỨC HẠNH

(Tài chính) Tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan trọng nhất trong các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của một quốc gia. Kế hoạch tăng trưởng kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 đã được Đảng và Nhà nước xác định cụ thể, đồng thời có các giải pháp nhằm quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, tạo đà cho giai đoạn 2016 - 2020.

Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế (2011 – 2015)

Đại hội Đảng lần thứ XI xác định: Giai đoạn 2011 - 2015 là nền tảng quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Một nửa chặng đường đã đi qua, dù còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, song kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng ấn tượng khi GDP (giai đoạn 2011- 2013) đạt trên 5%.

Qua đó, chúng ta tiếp tục phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,0 - 7,5%/năm; Giá trị công nghiệp, xây dựng tăng 7,8 - 8%/năm; Giá trị nông nghiệp tăng 2,6 - 3%/năm; Cơ cấu GDP: nông nghiệp 17 - 18%, công nghiệp và xây dựng 41- 42%, dịch vụ 41- 42%; Sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ đạt 35% tổng GDP; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 12%, giảm nhập siêu và đến năm 2020 cân bằng được xuất nhập khẩu; Vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm đạt 40% GDP; Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt 23 - 24% GDP; giảm mức bội chi ngân sách xuống 4,5% GDP vào năm 2015…

Tuy nhiên, ngay năm đầu tiên bước vào thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội (2011 - 2015), do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp… đã tác động không thuận đến nền kinh tế Việt Nam. Những hạn chế, yếu kém của nền kinh tế cùng với những mặt trái của chính sách hỗ trợ tăng trưởng đã làm cho lạm phát tăng cao (năm 2010 lạm phát tăng 11,75%, năm 2011 tăng vọt lên 18,13%) ảnh hưởng không nhỏ đến ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) và tăng trưởng kinh tế…

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có những điều chỉnh kịp thời về mục tiêu và nhiệm vụ theo hướng tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý. Ngày 08/11/2011, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 10/2011/QH khoá XIII, điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 – 2015 bình quân từ 7,0 – 7,5%/năm xuống còn 6,5 – 7,0%/năm. Bình quân trong 3 năm qua, mức tăng trưởng GDP đạt 5,52%, thấp hơn mức tăng trưởng bình quân 5,7% của khối ASEAN năm 2012, thấp hơn so với chỉ tiêu chung cho kế hoạch 5 năm đã đề ra là 6,5 – 7,0%/năm. Cụ thể: Năm 2011, GDP của Việt Nam đạt 5,89%; Năm 2012, mức tăng trưởng giảm xuống còn 5,25%; Năm 2013, mức tăng trưởng đạt 5,42%, cao hơn năm 2012, nhưng vẫn thấp hơn năm 2011.

Tình hình tăng trưởng kinh tế (2011 – 2013)

Những thành công

Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong 3 năm qua đạt tỷ lệ thấp (bình quân chỉ tăng 5,52%/năm) nhưng trong điều kiện cụ thể với tình hình kinh tế thế giới trì trệ thì đây là mức tăng trưởng thành công của Việt Nam. Kinh tế có dấu hiệu phục hồi vào năm 2013 và có thể tạo đà tăng trưởng cho những năm tiếp theo. Năm 2013, Chính phủ thực hiện quyết liệt tái cơ cấu nền kinh tế; Tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước (DNNN); Xử lý nợ DN, nợ xấu của các ngân hàng thương mại đã đạt được những kết quả khả quan. Đáng chú ý, kết thúc năm 2013, tổng số các DN đăng ký thành lập mới đạt 76.955 DN, tăng 10,1% so với năm 2012. Qua đó có thể thấy, đã có dấu hiệu của sự phục hồi kinh tế, đây là tiền đề tạo đà tăng trưởng trong hai năm cuối của kế hoạch 2011- 2015.

Những hạn chế, yếu kém

Nhìn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm (2011 – 2013) chỉ đạt 5,52% so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI là 7,0 - 7,5% và Nghị quyết số 01/2011 của Quốc hội khóa VIII điều chỉnh mức tăng trưởng là 6,5- 7,0%/ năm thì mức tăng trưởng trên còn thấp hơn rất nhiều. Như vậy, nhiệm vụ còn lại của 2 năm tiếp theo là hết sức nặng nề.

Giá trị gia tăng của ba ngành kinh tế cơ bản là ngành Công nghiệp, Xây dựng và Dịch vụ trong những năm qua còn quá thấp so với chỉ tiêu đề ra: Giá trị gia tăng bình quân trong 3 năm của ngành Công nghiệp, Xây dựng đạt 5,9%/năm, trong khi chỉ tiêu kế hoạch là 7,8 – 8%/năm. Cùng với đó, ngành dịch vụ tăng bình quân là 6,59%/năm so với chỉ tiêu kế hoạch là 7,8 – 8%/năm. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 là 5,25%, không những thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch mà còn là năm có mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 14 năm qua.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Thứ nhất, từ cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009 đến nay, kinh tế thế giới vẫn sụt giảm, tăng trưởng chậm. Báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho thấy, tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới năm 2011 đạt 3,9%; năm 2012 (3,2%); năm 2013 (2,9%). Các nước mới nổi và đang phát triển đạt 6,2% (năm 2011); 4,9% (năm 2012) và ước đạt 4,5% (năm 2013). Những chỉ số trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Năm 2011, GDP của Việt Nam đạt 5,89%; Năm 2012 mức tăng trưởng giảm xuống còn 5,25%; Năm 2013, mức tăng đạt 5,42%, cao hơn so với năm 2012 nhưng thấp hơn so với 2011. Với mức tăng trưởng này, nhiệm vụ của 2 năm còn lại trong kế hoạch 2011 - 2015 là khá nặng nề.

Thứ hai, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta chậm được hoàn thiện; Nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa tạo ra được môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh; Còn tồn tại cơ chế “xin – cho”; Cải cách hành chính chậm và còn nhiều hạn chế, thủ tục hành chính rườm rà, tiêu cực còn lớn. Đặc biệt là nạn tham nhũng chưa được đẩy lùi, vẫn còn lãng phí lớn trong chi tiêu công.

Thứ ba, quản lý nhà nước về kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, song đạt hiệu quả chưa cao. Chưa tập trung được các nguồn lực, chưa phát huy được các tiềm năng của nền kinh tế; quản lý kinh tế vĩ mô chưa hiệu quả; Nhiều chính sách nhưng tính thực tiễn chưa cao; Chưa có những giải pháp, chính sách ứng phó linh hoạt, kịp thời với những tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Thứ tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là hoạt động kém hiệu quả của các DNNN. So với năm 2012, các DN đăng ký thành lập mới năm 2013 tăng 10,1% nhưng tổng số vốn đăng ký lại giảm 14,7%; Số DN giải thế hoặc ngừng hoạt động tăng 11,9% so với năm 2012. Trong 2 năm (2011 – 2012), số DN ngừng hoạt động hoặc phá sản khoảng 100.000 DN, chiếm khoảng 50% tổng số DN rút khỏi thị trường trong vòng 20 năm qua.

Năm 2012, chỉ riêng 73 tập đoàn và các tổng công ty nhà nước có tổng vốn chủ sở hữu là 735.293 tỷ đồng với tổng giá trị tài sản là 2.138.780 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 127.510 tỷ đồng. Số các DN 100% vốn của nhà nước cũng đã giảm từ 5.665 DN (2011) xuống còn 1.254 DN (2013). Năm 2013 chỉ có khoảng 80% số DNNN hoạt động có lãi, còn 20% hoạt động thua lỗ và hòa vốn. Trong số các DN hoạt động có lãi thì số DN đạt mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10% chiếm tới 46,5%; Còn mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trên 20% chiếm 23%. Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của các DNNN bình quân trong 3 năm là gấp gần hai lần. Do đó, các DNNN nợ lớn, trong tổng số nợ xấu của các ngân hàng thương mại nợ của các DNNN chiếm tới 70%.

Thứ năm, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2012 tăng bình quân 3,91%/tháng, năm 2013 mặc dù có giảm nhưng vẫn ở mức 2,52%/tháng. Năm 2012, nợ xấu đạt 8,82% tổng mức tín dụng của nền kinh tế, tương đương khoảng 250.000 tỷ đồng. Với sự hoạt động có hiệu quả của Công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC), nên đến cuối năm 2013 mức nợ xấu giảm xuống còn 4,62%, tương đương khoảng 140.000 tỷ đồng và dự kiến đến hết năm 2015 có thể xử lý hết nợ xấu ngân hàng.

Thứ sáu, nợ công tăng cao, đầu tư toàn xã hội giảm. Nợ công Việt Nam tăng dần qua các năm và là một trong những quốc gia có mức nợ công cao của châu Á. Năm 2011, tỷ lệ nợ công so với GDP là 54,9%, giảm 0,9% so với năm 2010 (56,8%), nhưng năm 2012 tỷ lệ nợ công đã đạt mức 55,7% và năm 2013 là 56,2%. Mặc dù, tỷ lệ nợ công vẫn nằm trong mức an toàn (không quá 65%) nhưng đây là vấn đề đáng quan tâm, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế.

Giải pháp tăng trưởng kinh tế (2013 - 2015)

Qua kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch tăng trưởng kinh tế 5 năm (2011 – 2015), có thể khẳng định, nhiệm vụ, mục tiêu phấn đầu hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015 là hết sức nặng nề. Từ nay đến năm 2015, để đạt được các chỉ tiêu nói trên thì tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 7,9%/năm. Trên cơ sở đó, chỉ tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 năm (2014 – 2015) bình quân là 6%/năm. Riêng năm 2014, dự kiến tăng trưởng GDP đạt 5,8%/năm, đây là chỉ tiêu có tính khả thi.

Để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong 2 năm (2014 – 2015), theo chúng tôi cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, tạo đột phá trong thu hút đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh; phát triển đồng bộ các loại thị trường; Xóa bỏ cơ chế “xin – cho”; Quyết liệt thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ. Có những giải pháp mạnh chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí trong chi tiêu công. Thực hiện nghiêm túc chế độ “thủ trưởng” chịu tránh nhiệm, thưởng, phạt phải nghiêm minh.

Hai là, tăng cường ổn định đi đôi với tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Thực hiện mục tiêu ổn định phải gắn liền với tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ. Điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tăng dư nợ tín dụng phù hợp và bảo đảm chất lượng tín dụng. Điều hành hiệu quả tỷ giá, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Tăng dự trữ ngoại hối, thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

Ba là, quyết liệt tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Kích thích tăng tổng cầu và hỗ trợ phát triển thị trường trong nước. Khai thác có hiệu quả các cơ hội, ưu đãi trong cam kết quốc tế để mở rộng thị trường xuất khẩu. Hạn chế phát sinh và đẩy nhanh xử lý nợ xấu, điều hành lãi suất cho vay phù hợp và tạo thuận lợi cho DN tiếp cận vốn. Hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ DN nhỏ và vừa khôi phục phát triển sản xuất kinh doanh.

Bốn là, đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế tập trung vào tái cơ cấu đầu tư công. Triển khai thực hiện hiệu quả Luật Đầu tư công; Thực hiện tập trung kế hoạch đầu tư trung hạn; Quan tâm vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết. Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý đầu tư gắn với tăng cường giám sát, thanh tra, bảo đảm quản lý thống nhất và thực hiện quy trách nhiệm của địa phương, chủ đầu tư gắn với bảo đảm chất lượng và tiến độ công trình…

Bên cạnh đó, đẩy mạnh tái cơ cấu toàn diện các TCTD, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém. Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tiếp tục cổ phần hóa và nâng cao sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại quốc doanh. Xử lý nghiêm minh và có hiệu quả những tiêu cực trong hoạt động ngân hàng. Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, bảo đảm an toàn hệ thống.

Nâng cao năng lực quản trị DN, chú trọng kiểm soát nội bộ và công tác cán bộ. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đẩy mạnh giám sát, kiểm tra, thanh tra. Xử lý nghiêm minh các hiện tượng làm thất thoát tài sản của DNNN. Thực hiện công khai minh bạch hoạt động của DNNN theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.

Năm là, xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Tập trung nguồn lực phát triển nhanh kết cấu hạ tầng quan trọng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp vận động tài trợ và đẩy nhanh giải ngân vốn ODA. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay thương mại ưu đãi. Đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tập trung đầu tư để hoàn thành các công trình, dự án cấp thiết về giao thông, thủy lợi, năng lượng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để huy động mạnh các nguồn lực ngoài nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

Tài liệu tham khảo:

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (01/2011);

2. Nghị quyết số 10/2011 – QH khoá VIII của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt Nam, ngày 08/11/ 2011;

3. Tổng cục Thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010, 2011, 2012 và 2013;

4. Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm (2011 – 2015) và nhiệm vụ 2014 – 2015.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2014

Từ khóa: tăng trưởng kinh tế , GDP , tăng trưởng , nợ xấu , doanh nghiệp nhà nước , tái cơ cấu , lạm phát , cơ chế , Chỉ tiêu tăng trưởng , Nợ công Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ

Thứ năm 13/02/2014 09:07

(Tài chính) Từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Các DN vừa và nhỏ này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật. Nguồn: internet

Tại Đại hội câu lạc bộ Pháp chế DN nhiệm kỳ III mới đây, ThS. Đặng Thị Tuyết, Trưởng ban pháp chế Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam cho biết, Công ty mẹ có bộ phận pháp chế độc lập và toàn bộ tập đoàn có hơn 100 cán bộ pháp chế. Hiện tập đoàn này có 60 công ty con và 22 đơn vị hạch toán phụ thuộc trong công ty mẹ. Do đó công tác pháp chế có vai trò quan trọng để đảm bảo hoạt động thông suốt và an toàn của tập đoàn. Tập đoàn đã triển khai đồng bộ công tác pháp chế từ công ty mẹ xuống công ty con...

Quan trọng nhất là bộ phận pháp chế đã tư vấn cho lãnh đạo DN phòng ngừa rủi ro pháp lý đối với các giao dịch, thẩm định, tư vấn đối với dự thảo hợp đồng hoặc trực tiếp tham gia đàm phán.

Một đơn vị khác là liên doanh dầu khí Vietsovpetro, đơn vị này có tới 7.000 lao động và có bộ phận pháp chế độc lập từ 30 năm nay. Luật sư Trần Văn Bình, Trưởng phòng Luật Vietsovpetro chia sẻ, đối với xí nghiệp nhỏ, có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật hoặc văn phòng luật nhưng với DN lớn thì cần có bộ phận pháp chế riêng biệt, có như vậy mới đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động của DN. Bộ phận này không chỉ thẩm định hợp đồng, xử lý khiếu nại, tranh chấp… mà còn tham gia nhiều mặt hoạt động như đảm bảo DN thực thi đúng pháp luật, không để xảy ra rủi ro, ban hành các văn bản quản lý nội bộ DN, công tác quản lý vật tư, tài sản…

Tuy nhiên, ThS. Đặng Thị Tuyết cũng cho rằng, công tác pháp chế nội bộ DN vẫn còn nhiều hạn chế như trình độ của cán bộ, dù là được đào tạo chuyên ngành luật, song phần đông là thuyên chuyển từ công tác khác sang.

Hơn nữa, nhiều DN gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin pháp luật, trong khi hệ thống pháp luật trong quá trình làm luật và sửa đổi quy định pháp luật liên tục có sự thay đổi dẫn đến DN khó cập nhật kiến thức pháp luật kịp thời, chuẩn xác.

Với DN vừa và nhỏ, công tác pháp chế còn nhiều hạn chế hơn khi các DN này chủ yếu thành lập từ năm 2000 trở lại đây trong thời kỳ mà Nhà nước ban hành rất nhiều văn bản pháp luật cho kịp với thông lệ WTO. Luật gia Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam cho biết, khu vực này sử dụng 60% lao động và mỗi năm tăng thêm nửa triệu lao động... nhưng nhận thức pháp luật trong khối DN này còn nhiều mờ nhạt và là vấn đề đáng phải quan tâm như sự hiểu biết pháp luật quản trị DN còn yếu, nhân sự pháp chế thiếu.

Không chỉ thế, từ năm 2008 đến nay, trong môi trường kinh tế khó khăn, những rủi ro pháp lý trở nên hiện hữu với nhóm DN này trong nhiều lĩnh vực như đất đai, thuế, thanh tra lao động, tranh chấp hợp đồng… Tuy nhiên, các DN này chưa có ý thức phòng ngừa rủi ro pháp luật.

Ở góc độ khác, ông Đinh Việt Thanh, Pháp chế Tổng Công ty May 10 – Công ty cổ phần nhận xét, hiện nay DN bị điều chỉnh bởi rất nhiều luật, có luật chỉ mới áp dụng vài năm đã không phù hợp thực tế. Đặc điểm này là do tiếng nói DN trong quá trình tham gia xây dựng luật còn hạn chế, đặc biệt là các hiệp hội ngành nghề chưa có tiếng nói trọng lượng trên diễn đàn xây dựng luật. Thực tế, DN gặp nhiều vướng mắc trong thực thi luật mà phổ biến nhất là mỗi tỉnh vận dụng một kiểu. Những vấn đề này cần phải được đúc kết để tham gia xây dựng pháp luật.

Từ thực tế trên, luật gia Tô Hoài Nam đề xuất: câu lạc bộ Pháp chế DN cần phối hợp chặt chẽ hơn với các hiệp hội trong đó có Hiệp hội DN vừa và nhỏ để ghi nhận những phản ánh của DN, từ đó góp ý công tác xây dựng chính sách, pháp luật để pháp luật đáp ứng thực tiễn hoạt động kinh doanh.

Theo thoibaonganhang.vn

Từ khóa: pháp chế , Vietsovpetro , doanh nghiệp vừa và nhỏ , công ty mẹ , pháp lý , lao động , hiệp hội , công ty con , doanh nghiệp Các tin đã đưa Lãng phí có nghiêm trọng hơn tham nhũng? Doanh nghiệp nhà nước: Hết thời "vừa đá bóng vừa thổi còi" Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng” Truy tố thêm 2 cá nhân trong vụ bầu Kiên Đại gia phạm luật: Ai dám xử? Sở hữu chéo, gỡ được đến đâu? Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn… thờ ơ Đằng sau chuyện vượt rào sở hữu cổ phần ngân hàng Đại lý bảo hiểm - “lỗ hổng” của doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thiếu bản sắc, nhiều khúc mắc

Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thiếu bản sắc, nhiều khúc mắc

Thứ hai 17/02/2014 10:00

HẠNH TRẦN

(Tài chính) Đến ngày 15/12/2013, đã có 83/109 tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT)  trình đề án tái cơ cấu lên cơ quan có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Tuy nhiên, không ít đề án dù đã được phê duyệt nhưng không thể thực hiện do phương án tái cơ cấu chưa thể hiện tâm huyết của doanh nghiệp (DN). Điều này cho thấy, việc tái cơ cấu DN nhà nước (DNNN) cần xem xét ngay từ khâu xây dựng đề án.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Theo đánh giá của ông Hồ Sỹ Hùng, Cục trưởng Cục phát triển DN, một số nội dung của các đề án tái cơ cấu DNNN còn chưa đủ cụ thể để thực hiện và giám sát. Một số đề án chưa đánh giá hết các tồn tại trong quản lý điều hành, quản lý tài chính, cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN. Cụ thể: nhiều đề án chưa có đánh giá sâu để có những thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy của các tập đoàn, tổng công ty, nhất là đối với DN có nhiều đơn vị thành viên, nhiều phòng ban chức năng hoạt động hiệu quả chưa cao; thiếu các phân tích và đánh giá rõ ràng, đầy đủ về hiện trạng tài chính theo những chỉ số thông dụng nhất như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán, phân bổ vốn đầu tư theo ngành lĩnh vực… để từ đó đặt ra yêu cầu tái cơ cấu tài chính; chưa đi sâu phân tích vấn đề năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh trong tương quan so sánh của thị trường để sắp xếp, đào tạo lại lao động.

Thực tế các đề án tái cơ cấu của các tập đoàn, tổng công ty về cơ bản viết theo định hướng của Quyết định 929/QĐ-TTg. Tuy nhiên, Quyết định này chỉ là một chủ trương chung, trong quá trình xây dựng đề án các đơn vị lại trích dẫn phần lớn nội dung của Quyết định. Các vấn đề cụ thể chỉ được chỉnh trang rất ít cho phù hợp với ngành nghề kinh doanh của DN. Do vậy, không ít đề án dù đã được phê duyệt nhưng chưa thể thực hiện được. Cụ thể như vấn đề thoái vốn, trong đề án của các DN chỉ nêu chung chung là sẽ thoái vốn và có lộ trình đến 2015 là thoái hết. Nhưng thoái hết những gì, phương án thoái vốn ra sao lại không nêu rõ.

Đồng quan điển trên, ông Sandy Ewart, chuyên gia tư vấn của UNICON cho rằng, các đề án tái cơ cấu của các tập đoàn, tổng công ty đã theo định hướng của Chính phủ. Nhưng không mang định hướng mục tiêu của chính DN. Hầu hết các đề án theo hướng tiếp cận từ trên xuống dưới, nghĩa là đề án chỉ được xây dựng từ đội ngũ lãnh đạo cấp cao của DN, ít có sự tham gia của cán bộ cấp dưới.

Hơn nữa, để xây dựng được một đề án tái cấu trúc tốt phải dựa trên phân tích thị trường và phân tích phân khúc thị trường rõ nét. Tuy nhiên, phần lớn đề án của các DN Việt Nam chưa dựa trên phân tích thị trường nên chưa xây dựng được cơ sở để đưa ra dự báo thị trường hoặc dự báo dòng tiền tốt. Việc không có phân tích dòng tiền, cũng như phân tích phân khúc thị trường mạnh mẽ là lý do khiến DN chưa định hướng được chiến lược tốt. Vì vậy, mô hình hoạt động sau tái cấu trúc của DN chưa rõ ràng.

Một vấn đề khác, nhân sự là một phần quan trọng của đề án tái cấu trúc. Nhưng việc thiết kế tổ chức, số lượng nhân sự của đề án không dựa vào nhu cầu thực tế, chưa có liên kết rõ ràng với cơ cấu của DN. Hầu hết nội dung trong đề án nói lên yêu cầu, định hướng từ phía chính phủ. Ví dụ: DN sau khi tái cơ cấu, cắt giảm một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh song số lao động lại tăng lên. Mục đích của việc tăng thêm nguồn nhân lực chỉ đơn giản là để có thành tích báo cáo.

Theo ông Sandy Ewart, để loại bỏ các bất cập trên, xây dựng đề án tái cấu trúc cần tập trung vào các vấn đề sau:

Thứ nhất, DN phải xác định hợp lý 3 nội dung: Một là, hiện tại DN đang ở đâu. Hai là, tương lai DN muốn trở thành như thế nào. Ba là, làm cách nào và khi nào DN đạt được mục tiêu ấy. Điều này có nghĩa, khi xây dựng đề án tái cấu trúc DN phải xác định được tầm nhìn và sứ mệnh.

Thứ hai, việc xác định mục đích của đề án tái cơ cấu cần làm rõ những nội dung cần thực hiện, xác định những ảnh hưởng trong tương lai của các quyết định hiện tại. Trong quá trình thực hiện phải xác định được những ảnh hưởng và rủi ro sẽ gặp phải. Khi xác định được rủi ro cần thiết lập các phương án xử lý rủi ro, thời điểm xử lý. Khi xử lý rủi ro, cần xem xét đến nguồn lực hiện tại. Tức là phân tích việc xử lý rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến nguồn lực tái cơ cấu. Trên cơ sở xác định rủi ro và xử lý rủi ro kịp thời, DN có thể ngăn chặn khủng hoảng đúng thời điểm. Để thực hiện hiệu quả ban lãnh đạo nên giao việc hoặc ủy quyền cho cấp dưới theo phạm vi công việc được ủy quyền. Như vậy cấp dưới sẽ có trách nhiệm tốt hơn trong quá trình thực hiện, cũng như chịu trách nhiệm kết quả của quá trình thực hiện đó. Nếu thực hiện tốt các nội dung trên, có thể có quá trình giám sát, đánh giá tốt tiến độ thực hiện triển khai đề án.

Thứ ba, một đề án tốt cần đảm bảo các yếu tố: mục tiêu mang tính chiến lược, cở sở thực tế, các giả định, giao nhiệm vụ và mốc thời gian, cung cấp sự kiểm soát, đánh giá. Việc xác định mục tiêu mang tính định hướng chiến lược cần xác định rõ trong tương lai DN sẽ phát triển như thế nào, có thể đạt được mục tiêu gì, khi nào có thể đạt được mục tiêu ấy. Về yếu tố thực tiễn, đề án phải được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, thực tiễn này phải gắn với ngành nghề DN đang hoạt động. Trong đề án tái cấu trúc cũng phải xác định giả định. Ví dụ khi đề ra mục tiêu tăng thị phần lên bao nhiêu phần trăm, DN cũng phải căn cứ trên những giả định rất cụ thể như tính cạnh tranh, chuỗi giá trị, môi trường vĩ mô… Để đề án thực hiện đúng tiến độ, khi giao việc cho cấp dưới cần xác định mốc thời gian hoàn thành. Cấp lãnh đạo có phương thức kiểm soát hàng tháng, hàng tuần, nhiệm vụ đã hoàn thành trong khung thời gian đã đề ra. Nếu khâu giao việc được kiểm soát tốt, có thể kiểm soát hiệu quả công việc, sửa sai kịp thời. Đối với yếu tố giám sát, trên thực tế các đề án tái cơ cấu chỉ được xây dựng một lần rồi trình lên các cấp có thẩm quyền, sau đó trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Nhưng thực tế đề án tái cơ cấu là kim chỉ nam, cẩm nang để DN tham chiếu thực hiện. Vì vậy, cần xem xét đề án theo một lộ trình cụ thể, ví dụ 3-6 tháng phải rà soát lại xem định hướng tái cơ cấu có thực sự tốt, thực sự phù hợp, DN đã đạt được mục tiêu, kế hoạch tái cơ cấu đã đề ra hay chưa. Từ đó, DN sẽ có hành động kịp thời để bổ sung những khoảng trống này.

Thứ tư, khi xây dựng một đề án cần đánh giá các nhân tố bên trong và bên ngoài. Nhân tố bên ngoài bao gồm: xã hội, kinh tế, công nghệ, luật pháp, chính trị, tính cạnh tranh, môi trường, thị trường. Trong đó yếu tố luật pháp ảnh hưởng rất lớn tới thành công và hiệu quả đề án.  Ví dụ định hướng của Chính phủ là thoái vốn ở những ngành nghề kinh doanh không cốt lõi nhưng luật pháp lại quy định không được bán tài sản dưới giá trị sổ sách. Quy định này sẽ dễ dàng hơn với các DN 100% vốn nhà nước thông qua chuyển tài sản từ DN này sang DN khác, quyết định tùy thuộc vào nhà nước và DN. Tuy nhiên khi đã cổ phần hóa, việc thoái vốn sẽ phụ thuộc vào lợi ích của cổ đông thiểu số và biểu quyết của cổ đông thiểu số. Điều này khiến việc thoái vốn của DN gặp khó khăn. Ngoài ra, môi trường cũng là nhân tố bên ngoài quan trọng, trong 10 năm qua, các DN ít xét đến yếu tố môi trường, bởi sự cạnh tranh chủ yếu diễn ra trong nước, giữa DNNN với các DN tư nhân. Tuy nhiên, hiện sự cạnh tranh đã diễn ra trong phạm vi khu vực và quốc tế nên nhân tố môi trường rất quan trọng trong hiện tại và tương lai.

Nhân tố bên trong bao gồm sản phẩm, tiếp thị, con người, tài chính, văn hóa, nguồn lực và sản xuất. Nhân tố quan trọng nhất là con người. Bởi, các yếu tố khác như công nghệ có thể mua ở bên ngoài, còn con người cần thời gian đào tạo kỹ năng, kinh nghiệm. Đề án tái cơ cấu phải phân bổ nguồn lực con người hợp lý, cần xem xét nâng cao năng lực, kỹ năng của nhân sự. Vì có thể cán bộ hiện tại chưa đủ năng lực đáp ứng sự thay đổi, cũng như năng lực trong quá trình triển khai. Ở khía cạnh nào đó, trong đề án có định hướng phát triển sang ngành nghề hoặc nâng cao ngành nghề kinh doanh hiện tại thì yêu cầu là phải có kỹ năng mới mà cán bộ hiện tại thiếu kỹ năng đó, cần phải bổ sung. Tuy nhiên quan điểm chung ở cấp lãnh đạo tại DN ở Việt Nam chỉ đào tạo cán bộ đáp ứng nhu cầu của kiểm toán nhà nước hoặc kiểm toán độc lập từ phía chính phủ, chứ không phải là đạo tạo cán bộ có tầm nhìn mang tính chiến lược hoặc mang tính thương mại để đáp ứng thị trường cạnh tranh mạnh mẽ.

Việc đánh giá các nhân tố được thực hiện bởi công cụ SWOT. Mô hình phân tích SWOT chia làm hai phần, phần phân tích điểm mạnh điểm yếu bên trong DN và phần thứ hai là cơ hội, thách thức bên ngoài DN. Thực tế các đề án tái cơ cấu của Việt Nam cũng có phân tích SWOT nhưng chủ yếu liệt kê điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội, thách thức chứ chưa có phân tích sâu. Phân tích SWOT là căn cứ đánh giá nội lực bên trong và những tác động bên ngoài của DN. Đây được xem là cơ sở để xây dựng đề án tái cấu trúc.

Trên cơ sở phân tích SWOT có thể phân tích thực trạng của DN và từ thực trạng đó, xây dựng mục tiêu, chiến lược, kế hoạch hành động, ngân sách và kế hoạch triển khai cụ thể. Trong đó, các mục tiêu phải xây dựng trên cơ sở thực tế, có tính nhất quán, xếp theo thứ bậc và có định lượng rõ ràng. Nghĩa là mục tiêu đề ra phải phù hợp với đặc điểm của DN và tình hình kinh tế để xác định mục tiêu thực tế nhất, không quá thách thức, cũng không quá thấp so với khả năng DN. Đồng thời, cần xác định khối lượng, số lượng, định lượng và số nhân sự cần thiết.

Từ các mục tiêu đã xác định, DN xây dựng chiến lược cụ thể. Chiến lược mô tả cách để DN đạt được mục tiêu đề ra. Trên cơ sở chiến lược, DN xây dựng kế hoạch hành động. Từ đó, xây dựng dự toán ngân sách đảm bảo cung cách ngân sách trong suốt quá trình thực hiện. Việc phân tích dự toán là phần rất quan trọng ảnh hưởng tới quá trình thực hiện đề án. 3 nội dung được xem là dữ liệu để đưa vào đề án là bảng cân đối kế toán, phân tích dòng tiền và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Phân tích dòng tiền của DN bắt nguồn từ doanh thu, cũng như phân tích cạnh trạnh, phân tích thị trường và phân khúc thị trường. Mỗi dự án khi DN thực hiện có ảnh hưởng rất lớn đến dự báo dòng tiền, cũng như phân tích dòng tiền của bản thân DN. Cuối cùng, khi đã có đề án, trong quá trình thực hiện phải đánh giá, rà soát và có biện pháp đo lường cụ thể.

                                                                  Bài đăng trên Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp số tháng 1+2/2014

Từ khóa: Doanh nghiệp , Đề án tái cơ cấu DNNN , tập đoàn , tổng công ty , tài chính doanh nghiệp Các tin đã đưa Đến 2015, sẽ cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước Công bố 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất VN năm 2013 Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm dòng vốn ngoại mới Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Mai Linh và câu chuyện lật ngược thế cờ Nhiều doanh nghiệp lớn chờ IPO Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thiếu bản sắc, nhiều khúc mắc Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn Vinh danh tư vấn viên bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nhiều doanh nghiệp lớn chờ IPO

Nhiều doanh nghiệp lớn chờ IPO

Thứ hai 17/02/2014 14:13

(Tài chính) Dự báo năm nay thị trường chứng khoán sẽ khá sôi động với sự tham gia của một loạt doanh nghiệp nhà nước lớn thực hiện cổ phần hóa

Dự kiến, năm 2014, Vietnam Airlines và nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước sẽ thực hiện cổ phần hóa, thúc đẩy thị trường chứng khoán sôi động hơn. Nguồn: internet

Đã có 63/91 tập đoàn, tổng công ty được phê duyệt đề án tái cơ cấu trong năm qua. Nhiều doanh nghiệp lớn đã chốt mốc thời gian phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), một số khác lỗi hẹn cổ phần hóa trước đây cũng bắt buộc phải thực hiện.

Hàng không, dệt may “nặng ký”

Trong số các doanh nghiệp lớn thực hiện IPO trong năm nay, đáng chú ý có Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex). Vietnam Airlines hiện đang giữ thị phần lớn nhất trong ngành hàng không với đội bay gồm hơn 80 chiếc. Năm 2013, doanh nghiệp này chốt kết quả thực hiện nhiều chỉ tiêu quan trọng đều cao hơn so với kế hoạch đề ra.

Cụ thể, đối với nguồn thu chính là sản lượng vận chuyển hành khách, Vietnam Airlines đã vận chuyển được khoảng 15 triệu lượt khách trong khi dự kiến kế hoạch là 13 triệu lượt khách. Hệ số sử dụng ghế trên toàn mạng bay ước đạt 79,5%, tăng 2,8% so năm 2012 và là mức cao nhất trong lịch sử, giúp hãng tăng được doanh thu trên cùng mức chi phí đầu tư. Doanh thu hợp nhất của Vietnam Airlines đạt 72.555 tỉ đồng (tăng 8,5% so với kế hoạch), nộp ngân sách nhà nước ước đạt 3.113 tỉ đồng (tăng 9,8% so kế hoạch), lợi nhuận trước thuế đạt 533 tỉ đồng, tăng 34% so với kế hoạch.

Với ngành dệt may, dự báo hoạt động năm 2014 khá thuận lợi do đây là một trong những ngành được hưởng lợi lớn nhất khi Việt Nam kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Theo ông Lê Tiến Trường, Phó Tổng giám đốc thường trực Vinatex, năm nay Vinatex đặt mục tiêu tăng trưởng 12%.

Bên cạnh đó, đón đầu Hiệp định TPP và các hiệp định thương mại khác, Vinatex quyết tâm triển khai chủ trương sản xuất phương thức ODM (tự thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm cho khách hàng) ở tất cả các đơn vị thành viên với tỉ lệ 12%-14%, tăng 2%-4% so với năm trước. Kết quả sản xuất kinh doanh của Vinatex năm 2013 rất khả quan, xuất khẩu ước đạt 20,4 tỉ USD. Trong đó xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng 14%, Hàn Quốc tăng 43%...

Còn nhiều doanh nghiệp xếp hàng

Trong danh sách của các bộ Giao thông Vận tải, Xây dựng còn có nhiều doanh nghiệp khác cũng có kế hoạch IPO năm 2014. Bộ Giao thông Vận tải dự kiến hoàn thành cổ phần hóa 10 tổng công ty (Tổng công ty), gồm Tập đoàn Công nghiệp Ô tô Việt Nam (Vinamotor), các Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1, 4, 5, 6, 8, Tổng công ty Xây dựng Thăng Long, Tổng công ty Xây dựng đường thủy, Tổng công ty Vận tải thủy, Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông Vận tải.

Bộ Xây dựng có Tổng công ty Xây dựng Hà Nội (HANCORP) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa và thành công ty cổ phần với vốn điều lệ 1.900 tỉ đồng. Năm nay, HANCORP sẽ thực hiện đấu giá 49.742.300 cổ phần, chiếm 26,18% vốn điều lệ. Một doanh nghiệp khác của Bộ Xây dựng là Tổng công ty Viglacera sẽ thực hiện IPO vào tháng 2 tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Doanh nghiệp này sẽ bán đấu giá 76.947.600 cổ phần, tương đương 25,07% vốn điều lệ, mức giá khởi điểm là 10.300 đồng/cổ phần.

Như vậy, thị trường chứng khoán năm nay dự báo sẽ khá sôi động với sự tham gia của một loạt hàng khủng nói trên. Năm 2013, thị trường chứng khoán đã có những diễn biến khả quan và Việt Nam được đánh giá là 1 trong 10 nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới. Riêng thị trường trái phiếu có mức tăng lớn nhất trong khu vực.

Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 2.578 tỉ đồng, tăng 31% so với năm 2012. Chỉ số VN-Index tăng trên 22%; HN-Index tăng 13% so với cuối năm 2012. Mức vốn hóa toàn thị trường đạt khoảng 964.000 tỉ đồng (tăng 199.000 tỉ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP; trong đó vốn nước ngoài tăng 54% và giá trị danh mục tăng khoảng 3,8 tỉ USD so với cuối năm 2012. Tổng giá trị huy động vốn của thị trường chứng khoán hiện nay ước đạt 222.000 tỉ đồng, tăng 25%.

Theo nld.com.vn

Từ khóa: Vinatex , IPO , Vietnam Airlines , cổ phần hóa , thị trường chứng khoán , Bộ Xây dựng , vốn điều lệ , Bộ Giao Thông Vận Tải Các tin đã đưa Đến 2015, sẽ cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước Công bố 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất VN năm 2013 Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm dòng vốn ngoại mới Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: Đường dài mới biết ngựa hay Mai Linh và câu chuyện lật ngược thế cờ Nhiều doanh nghiệp lớn chờ IPO Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thiếu bản sắc, nhiều khúc mắc Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn Vinh danh tư vấn viên bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp “ma”… nhập hàng lậu Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2014: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TTCK Việt Nam năm 2013 đã có những diễn biến và kết quả khả quan, trong đó, chỉ số VN-Index tăng gần 23% so với cuối năm 2012. TTCK Việt Nam được đánh giá là 1 trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới với mức vốn hóa khoảng 964.000 tỷ đồng, tương đương 31% GDP. Trong năm 2014, rất nhiều các nhóm giải pháp tiếp tục được đưa ra nhằm giúp TTCK phát triển ổn định và bền vững.

Đọc nhiều nhất Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngân hàng "đau đớn" vì… vàng! Ngân hàng tiết kiệm nhà ở có lặp lại vết xe đổ của quỹ tiết kiệm nhà ở? Đồng tiền… tâm linh Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 01/2014 Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nhiều công ty tài chính đang mất vốn

Nhiều công ty tài chính đang mất vốn

Thứ sáu 07/02/2014 09:19

(Tài chính) Trong khi sức khỏe các ngân hàng quốc doanh, cổ phần ngày một cải thiện thì cả tổng tài sản, vốn tự có lẫn vốn điều lệ của các công ty tài chính lại giảm mạnh.

Thống kê tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến hết ngày 30/11/2013, tổng tài sản của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đạt hơn 5,5 triệu tỷ đồng, tăng hơn 8% so với đầu năm 2013. Vốn tự có lẫn vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng cũng tăng trưởng.

Trong đó, các ngân hàng đều tăng trên dưới 9% tổng tài sản. Riêng nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài, chỉ tiêu này còn tăng trên 20% so với mốc so sánh là đầu năm 2013.

So với số liệu nhà điều hành công bố trước đó một tháng, vốn tự có của các nhà băng cổ phần giảm nhẹ hơn chục tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu tính từ đầu 2013, chỉ tiêu này vẫn tăng và cho thấy sức khỏe các nhà băng dần được cải thiện dù năm 2013 các đơn vị phải trích nhiều chi phí liên quan xử lý nợ xấu.

Ngược lại, nhóm các công ty tài chính, cho thuê tài chính vẫn được xem là có sức khỏe yếu nhất hệ thống khi các chỉ tiêu cơ bản đều giảm mạnh. So với đầu năm 2013, khối này đã bốc hơi hơn một nửa tổng tài sản (khoảng 86.000 tỷ đồng) sau 11 tháng. Tương tự, vốn tự có cũng giảm 73%, vốn điều lệ mất 24%... Với đặc thù không được nhận tiền gửi từ dân cư, tỷ lệ cho vay trên huy động từ thị trường I của các công ty tài chính vọt lên gần 350%.

Trong báo cáo gửi Quốc hội cuối 2013, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết đã đánh giá và xác định thêm 8 tổ chức tín dụng yếu kém, trong đó có 6 tổ chức phi ngân hàng.

Theo vnexpress.net

Từ khóa: công ty tài chính , vốn tự có , tổng tài sản , ngân hàng quốc doanh , cổ phần , vốn điều lệ , tổ chức tín dụng , ngân hàng liên doanh , xử lý nợ xấu Các tin đã đưa 5 nhóm giải pháp lớn nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Thế cờ bán lẻ 2014 Những chiêu đòi nợ “độc” của ngân hàng “Điểm mặt” những ông lớn bất động sản khai sinh năm Ngọ Không vội vã "Tân trang" cho nợ xấu… Nhiều công ty tài chính đang mất vốn Sản xuất nhộn nhịp đầu năm Ngành ngân hàng: Câu chuyện chỉ mới bắt đầu Doanh nghiệp Việt bước vào giai đoạn mới Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Lưu ý một số điểm mới tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về thuế Thu nhập cá nhân Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 Hướng dẫn cách tính thuế Thu nhập cá nhân mới nhất năm 2014 Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Không vội vã Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nhiều cửa ải vào thị trường mới

Nhiều cửa ải vào thị trường mới

Thứ sáu 17/01/2014 16:21

(Tài chính) Nhiều doanh nghiệp (DN) đang tính cách đưa hàng hóa vào các thị trường xuất khẩu (XK) mới để đẩy mạnh lượng hàng tiêu thụ. Tuy nhiên, không chỉ gặp khó trong tiếp cận thị trường, xúc tiến thương mại, DN còn phải đối mặt với muôn rào cản...

Hoạt động sản xuất thép Việt Đức. Nguồn: internet

Muôn vàn khó

Chưa bao giờ nhu cầu tiêu thụ thép trong nước lại xuống mức thấp như thời gian qua, điều này đã khiến lãnh đạo Công ty cổ phần thép Tây Đô (Công ty thép Tây Đô) phải lên kế hoạch tìm kiếm các thị trường XK để giảm áp lực hàng tồn kho. Theo đó, cùng với lượng hàng đang bắt đầu XK vào các thị trường Lào, Campuchia, thép Tây Đô nhắm đến Myanmar như một thị trường đầy tiềm năng.

Ông Huỳnh Quang Trung, Tổng Giám đốc Công ty thép Tây Đô cho biết, DN đã tổ chức đoàn khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại vào cuối năm 2013 sang Myanmar để tìm hiểu cơ hội kinh doanh. Với những cải cách mạnh mẽ và nhu cầu đầu tư xây dựng tăng cao, thị trường này được đánh giá là có nhiều tiềm năng tiêu thụ cho các sản phẩm thép. Tuy nhiên, để thép Việt chen chân vào Myanmar lại không phải chuyện đơn giản khi thị trường này đang được thống lĩnh bởi thép Trung Quốc có giá rất cạnh tranh.

“Các sản phẩm thép của Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh được về chất lượng, song về giá thì không thể “đấu” lại được với thép Trung Quốc. Các sản phẩm thép của Trung Quốc hiện gần như đang thống trị thị trường Myanmar, lại có giá rẻ nên hàng Việt Nam rất khó chen chân vào thị trường. Giá thép của Việt Nam luôn cao hơn so với nước này từ 5-10% nên rất khó để cạnh tranh”, ông Trung nói.

Đã có sản phẩm bột giặt Vì Dân XK chạm chân được sang Cuba (đạt trị giá lên đến 40 triệu USD trong năm 2013) ông Nguyễn Văn Viện, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần tập đoàn VLC tiếp tục tìm cách đưa thêm sản phẩm sơn xuất sang thị trường này. Được biết, với các chủng loại sơn tường, sơn công nghiệp và sơn tàu biển…, VLC đã XK sang nhiều thị trường lớn trên thế giới như châu Âu, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á…

Tuy nhiên, để một sản phẩm mới vào thị trường Mỹ La tinh như Cuba, là điều không dễ do vị trí địa lý xa và cách thức kinh doanh lại khá đặc thù. “Chỉ cần xuất hàng sang đây là có lãi, nhưng để làm ăn được lại cực kỳ vất vả do điều kiện đi lại. Các đối tác nước này lại thường nợ kéo dài 1 năm mới thanh toán nên rất khó khăn trong việc quay vòng vốn. Do đó, để bán hàng được vào thị trường này phải có Chính phủ bảo lãnh mới có thể hợp tác” - ông Viện chia sẻ.

Cần chiến lược dài hơi

Ông Trần Đình Văn, Tham tán thương mại Việt Nam tại Chi-lê và cũng là người có hơn 20 năm kinh nghiệm làm việc với các đối tác tại Mỹ La tinh cho biết, Cuba là thị trường có nhu cầu tiêu dùng và sức mua rất lớn, nhưng do đây là thị trường mới, lại xa nên hoạt động xúc tiến thương mại gặp không ít khó khăn và chi phí lớn.

Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay, nhiều chương trình xúc tiến đến các thị trường này bị cắt giảm nên các DN phải tự thân vận động là chính. Do đó, ông Văn cho rằng việc tổ chức các hoạt động xúc tiến tại các thị trường Mỹ La tinh cần phải được tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thương mại Việt Nam tại các thị trường này để đạt hiệu quả.

Không chỉ là thị trường tiềm năng mà yêu cầu tiêu dùng tại các nước Mỹ La tinh cũng chưa đòi hỏi chất lượng cao như các nước châu Âu, Nhật Bản, nên sẽ giúp cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để hàng hoá bén rễ sâu vào thị trường lại không phải điều đơn giản, bởi ban đầu các nhà nhập khẩu (NK) thường mua hàng với số lượng nhỏ và chỉ tăng dần khi có lượng tiêu thụ ổn định.

Các DN thường phải kiên trì và chủ động phối hợp với đối tác trong khâu quảng bá, do đó nếu thấy hiệu quả chậm, DN thường nản lòng và sớm “buông” thị trường khi không thấy có hiệu quả.

Cũng tương tự thị trường Cuba, mặc dù đây được xem là điểm đến mới cho các DN XK của Việt Nam, song theo ông Vũ Cường, Tham tán thương mại tại Myanmar, nhiều DN chỉ liên hệ với cơ quan thương vụ để xin thông tin các nhà NK của nước này và gửi nội dung quảng bá sản phẩm qua email hoặc điện thoại.

Trong khi cách thức làm ăn của người Myanmar lại rất coi trọng gặp gỡ, trao đổi trực tiếp, nên hầu hết các thông tin mà DN gửi sang đều không nhận được trả lời. Chưa kể, đây dù là thị trường mới, song mức độ cạnh tranh cũng khá gay gắt do hàng nhập ngoại, đặc biệt là hàng Trung Quốc có giá rẻ đang có ưu thế lớn.

Do đó, ông Cường cho rằng nếu DN xác định Myanmar là thị trường tiềm năng và muốn thâm nhập, cần phải có sự đầu tư và đưa hàng một cách bài bản. “Với những thị trường mới, không thể chỉ ký được một hai công hàng đã thấy thoả mãn, hay cũng đừng vội nản lòng nếu hàng chưa thẩm thấu vào thị trường.

Cần phải nhìn đây là thị trường dài hơi, thường xuyên bám sát, cung cấp hàng với số lượng, chất lượng ổn định, thời gian giao hàng đúng hạn. Thậm chí, phải cùng nhà NK, phân phối thực hiện các chương trình quảng bá, xúc tiến thương mại để giới thiệu sản phẩm thì mới tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường”, ông Cường khuyến cáo.

Theo baohaiquan.vn

Từ khóa: doanh nghiệp , thị trường mới nổi , thị trường xuất khẩu , tiêu thụ thép , sản phẩm thép , thị trường , khả năng cạnh tranh Các tin đã đưa Nhiều cửa ải vào thị trường mới Tổ chức tín dụng đã tự nguyện “lột xác” Hàng không giá rẻ: Ao người khó bằng mười ao nhà Doanh nghiệp xuất khẩu vẫn “mù mờ” về TPP Nửa thế kỷ giữ vững niềm tin Ngân hàng nhỏ: tăng vốn thế nào với vô vàn rào cản? Doanh nghiệp phải tự là “phao cứu sinh” cho chính mình Danh tính các dự án sẽ bị Kiểm toán soi năm 2014 DATC – Tiếp tục chinh phục mục tiêu mới Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN LẠI NĂM 2013 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2014 2013 tiếp tục là một năm có nhiều khó khăn đối với thị trường bất động sản Việt Nam ở phần lớn các phân khúc, dẫu cuối năm đã có những điểm sáng. Tuy nhiên, những tồn đọng, điểm nghẽn đã bước đầu được xử lý, đang tạo nền tảng để có những chuyển biến lớn trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Một số thắc mắc liên quan những quy định mới về thuế giá trị gia tăng Những điểm nổi bật của thị trường bất động sản năm 2013 và dự báo năm 2014 Học Thạc sỹ tại Việt Nam cấp bằng chuẩn Vương quốc Anh Ngân hàng Nhà nước chỉ thị về thực hiện chính sách tiền tệ năm 2014 Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về nộp thuế sẽ bị cưỡng chế thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS