Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An

Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An

Thứ sáu 28/03/2014 15:33

ThS. VÕ PHƯƠNG OANH

(Tài chính) Kể từ ngày thành lập đến nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam chi nhánh Nghệ An (Vietinbank Nghệ An) đã không ngừng đa dạng hoá dịch vụ thẻ. Tuy nhiên, đến nay, thị phần dịch vụ này vẫn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Để có thể khai thác tối đa tiềm năng, Vietinbank Nghệ An sẽ cần triển khai rất nhiều giải pháp đồng bộ, căn cơ trong thời gian tới.

Vietinbank Nghệ An đã không ngừng đa dạng hoá dịch vụ thẻ. Nguồn: internet

Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ

Tính đến thời điểm 31/12/2012 các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã phát hành 500.000 thẻ, trong đó có hơn 2.000 thẻ tín dụng quốc tế (TDQT), lắp đặt mới 146 máy ATM, 170 máy POS. Trong đó, Vietinbank Nghệ An đã phát hành 27.552 thẻ (26.710 thẻ ATM và 842 thẻ TDQT), quản lý 20 máy ATM, 67 đơn vị chấp nhận thẻ với 80 máy POS - chiếm khoảng 5,5% thị trường thẻ toàn tỉnh.

Dịch vụ phát hành thẻ

Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ của Vietinbank Nghệ An rất chặt chẽ, hạn chế tối đa việc cung cấp những thông tin giả mạo từ phía khách hàng và tình trạng bị đánh cắp mã pin, thông tin cá nhân… Để phát hành thẻ, sau khi tiếp nhận hồ sơ phát hành, Chi nhánh tiến hành thẩm định xét duyệt phát hành và quản lý sử dụng thẻ theo công văn số 053/QĐ-HĐQT-NHCT32 “Quy định nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ E-partner; thanh toán thẻ Visa/Master Card, thẻ ATM Banknetvn tại ATM” và các quyết định khác có liên quan. Tính đến nay, Vietinbank Nghệ An đã phát hành được một số loại thẻ, gồm: Thẻ nội địa (Vietinbank E-Partner G-card, Pink-card...) và thẻ quốc tế (Vietinbank Visa Debit, Vietinbank Cremium JCB, VIP - Cremium Visa Platinum...).

Dịch vụ thanh toán thẻ

Mạng lưới thanh toán thẻ:

Để phục vụ các chủ thẻ một cách tốt nhất, Vietinbank nói chung Vietinbank Nghệ An nói riêng không ngừng mở rộng mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ cũng như mạng lưới ATM. Tại Nghệ An, số máy ATM do Vietinbank Nghệ An lắp đặt và quản lý hiện nay là 22 máy, số đơn vị chấp nhận thẻ Vietinbank Nghệ An quản lý là trên 67 đơn vị với 80 máy đọc thẻ được lắp đặt tại các siêu thị, trung tâm mua sắm, khách sạn lớn ở Nghệ An.

Doanh số thanh toán thẻ:

Năm 2012, thị trường thẻ ghi nợ nội địa ngày càng sôi động và có tính cạnh tranh cao. Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có khoảng 80.000 thẻ và 131 máy ATM. Riêng Vietinbank Nghệ An hiện đã có 26.170 thẻ với tổng số giao dịch khoảng 8.300 tỷ đồng, trong đó rút tiền mặt là 7.600 tỷ đồng, doanh số chuyển khoản là 588 tỷ đồng và trên 8 tỷ đồng tiền thanh toán. Trung bình có khoảng 25.000 giao dịch rút tiền mặt/chuyển khoản/ngày. Điều đáng mừng nhất là thẻ ATM đã đi vào cuộc sống hàng ngày của người dân.

Hoạt động quản lý rủi ro và tra soát khiếu nại:

Hoạt động quản lý rủi ro: Rủi ro trong hoạt động thẻ là khả năng có thể xảy ra các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ. Cho nên, Vietinbank Nghệ An đã phải thực hiện phòng chống và xử lý 3 loại hình rủi ro chính: Rủi ro trong hoạt động phát hành, rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ và rủi ro đối với hệ thống ATM. Đối với từng loại rủi ro, Vietinbank Nghệ An cũng có những biện pháp phòng chống rủi ro và cách giải quyết khác nhau.

Hoạt động tra soát, giải quyết khiếu nại và bồi hoàn: Đối với các giao dịch tra soát tại máy ATM/ đơn vị chấp nhận thẻ thuộc sự quản lý của Chi nhánh khác thuộc hệ thống Vietinbank: Tổ thẻ tiếp nhận tra soát và gửi đề nghị tra soát đến chi nhánh quản lý máy ATM/đơn vị chấp nhận thẻ. Sau khi tiếp nhận yêu cầu tra soát từ Vietinbank Nghệ An, chi nhánh này tiến hành kiểm tra và thông báo cho Vietinbank Nghệ An để Chi nhánh Nghệ An trả lời khách hàng trong thời gian quy định. Thường thì đối với loại tra soát này, thời gian trả lời cho khách hàng từ 3 - 5 ngày.

Bên cạnh đó, Vietinbank Nghệ An đã không ngừng nỗ lực gia tăng các tiện ích mà dịch vụ thẻ đem lại cho khách hàng. Ngoài những tiện ích thông dụng của thẻ như rút tiền mặt, chuyển khoản tại ATM… chủ thẻ còn có thể sử dụng thẻ để mua sắm, chi tiêu tại các đơn vị chấp nhận thẻ, qua mạng internet, thanh toán phí bảo hiểm, điện nước, cước điện thoại, gửi tiền tiết kiệm tại ATM, nộp tiền vào ngân sách nhà nước…

Một số giải pháp kiến nghị

Để gia tăng số lượng khách hàng và tần số sử dụng dịch vụ của khách hàng, một trong các giải pháp mới hiện nay mà Vietinbank cần đẩy mạnh thực hiện, đó là việc “bán chéo” cho khách hàng. Đối với ngân hàng, nhóm sản phẩm có thể bán chéo, đó là tín dụng- tiền gửi thanh toán - kiều hối - sản phẩm thẻ.

Phát triển mạng lưới ATM và đơn vị chấp nhận thẻ:

Số lượng các đơn vị chấp nhận thẻ mà hiện tại Vietinbank đang kết nối thanh toán thẻ Vietinbank trong liên minh (đặc biệt là Smartlink) đa số chỉ tập trung ở các trung tâm thương mại lớn, các siêu thị, nhà hàng... nơi thường có sự xuất hiện của những người có thu nhập cao và người nước ngoài. Tuy nhiên, với mục tiêu đã đặt ra không chỉ phát triển dịch vụ thẻ cho riêng đối tượng này mà muốn hướng đến phần đông người tiêu dùng thì Vietinbank Nghệ An cũng cần có kế hoạch đầu tư các đơn vị chấp nhận thẻ, lắp đặt máy ATM của ngân hàng ở nhiều nơi. Phát triển khách hàng với phát triển mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ, ATM phải song song với nhau và bổ sung cho nhau, không thể coi trọng phát triển một thứ hoặc không cân xứng. Có như vậy, Vietinbank mới có thể gia tăng thu nhập từ phí phát hành, phí thường niên, hoa hồng từ đơn vị chấp nhận thẻ...

Đầu tư và phát triển mạng lưới máy ATM, tối ưu hóa hoạt động của ATM không chỉ đầu tư số lượng các máy rút tiền hiện đại, có nhiều tính năng, an toàn cho người sử dụng mà còn nâng cao chất lượng của mỗi máy khi đưa vào hoạt động...

Bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ phát hành và thanh toán thẻ:

Đào tạo những kiến thức cơ bản về tin học và công nghệ thông tin cho cán bộ nghiệp vụ thẻ, trong đó chú trọng bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm, bộ phận phòng chống rủi ro. Đối với những người phụ trách quản lý rủi ro hoạt động thẻ, phải liên tục cập nhật các thông tin về thẻ giả mạo qua hệ thống mạng hoặc các phương tiện truyền thông quốc tế để có kiến thức phổ biến cho các đơn vị chấp nhận thẻ phòng ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra.

Thành lập phòng thẻ, bổ sung thêm cán bộ thẻ, đồng thời tổ chức đào tạo cán bộ tiếp thị, đảm bảo có kiến thức tốt về marketing cần thiết cho dịch vụ thẻ. Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ thẻ để cập nhật các ứng dụng mới của dịch vụ thẻ và trao đổi thông tin về các vấn đề mới phát sinh cho các cán bộ thẻ.

Đẩy mạnh công tác marketing, quảng cáo, tuyên truyền về dịch vụ thẻ:

Trong thời gian tới, Vietinbank Nghệ An cần đẩy mạnh hoạt động marketing dịch vụ thẻ để đông đảo người dân biết về lợi ích kinh tế, sự tiện lợi khi dùng thẻ. Đồng thời, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu cho sản phẩm thẻ trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, nhằm tác động mạnh mẽ vào nhận thức của mọi người, phá vỡ rào cản tâm lý ngần ngại của người dân trước dịch vụ mới và thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán.

Bên cạnh đó, Vietinbank Nghệ An cần xây dựng chương trình khuyến mại, ưu đãi cho chủ thẻ cũng như đơn vị chấp nhận thẻ, gồm: Miễn phí làm thẻ, chiết khấu giảm giá mua hàng cho chủ thẻ Vietinbank tại các đơn vị chấp nhận thẻ, tặng thưởng cho các chủ thẻ có giao dịch chi tiêu lớn, quay số trúng thưởng cho chủ thẻ… khiến chủ thẻ nhận thức được lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán thay vì sử dụng tiền mặt.

Phát triển quan hệ với các tổ chức kinh tế - tài chính:

Hiện nay, hình thức quản lý vốn tập trung và trả tiền lương cho nhân viên thông qua tài khoản ngân hàng đã ngày càng phổ biến nhờ những tiện lợi mà nó đem lại. Vietinbank Nghệ An cần nắm bắt cơ hội này cùng với tiềm năng của mình để thu hút các tổng công ty lớn trở thành bạn hàng truyền thống của mình, từ đó, sẽ có cơ hội để mở rộng phát hành thẻ đặc biệt là thẻ tín dụng nội địa. Trong thời gian tới, Vietinbank nên phát hành thẻ dùng trong từng lĩnh vực như thẻ mua xăng, thẻ mua vé máy bay, thẻ nộp phí cầu đường...

Ngoài ra, việc phát triển mối quan hệ với các cá nhân trong nước cũng cần được Vietinbank quan tâm đúng đắn vì đây là một thị trường đầy tiềm năng. Khuyến khích khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng bằng một số ưu đãi về lãi suất, về tín dụng và có nhiều chương trình bốc thăm trúng thưởng...

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 3 - 2014

Từ khóa: Ngân hàng Công thương Việt Nam , Nghệ An , ATM , thanh toán , thẻ ATM , chi nhánh , mạng lưới , chuyển khoản , Vietinbank Nghệ An Các tin đã đưa Đa dạng hóa dịch vụ thẻ: Giải pháp cho VietinBank Nghệ An Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp Điều hành chính sách tiền tệ: Những vấn đề đặt ra Gian nan bán vốn Chính sách tiền tệ đang tác động tích cực lên chứng khoán Đừng để tuột cơ hội lớn Phải sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Để Luật Đầu tư công có thể là “đê” chắn lãng phí ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn

Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn

Thứ hai 24/02/2014 09:16

(Tài chính) Theo Bộ Tài chính, do chưa chủ động nghiên cứu và đưa ra được yêu cầu về mức độ, phương thức hỗ trợ rõ ràng đối với các khoản nợ cho vay lại của Chính phủ, nên khi dự án phát sinh nợ quá hạn thì không xác định được đâu là do lỗi chủ quan mà quy tất cả thành lỗi do cơ chế, chính sách.

Việt Nam cần rất nhiều vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nguồn: internet

Sử dụng chưa tiết kiệm

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, các khoản nợ cho vay lại của Chính phủ đã phát huy tác dụng, đã huy động được nguồn lực lớn từ nước ngoài chủ yếu theo điều kiện ưu đãi cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong khi thị trường vốn trong nước chưa cung ứng được lượng vốn lớn với thời hạn dài, năng lực tự vay, tự trả vốn nước ngoài của các doanh nghiệp còn hạn chế. Vốn vay về cho vay lại chiếm bình quân khoảng 30- 35% tổng vốn vay nước ngoài của Chính phủ được cam kết và giải ngân hàng năm.

Công tác giải ngân và thu nợ từ các dự án cho vay lại đã và đang được thực hiện tốt, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 3,45% tổng dư nợ cho vay lại. Các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng qua các ngân hàng thương mại được hoàn trả đầy đủ cho Bộ Tài chính, không phát sinh nợ quá hạn.

Theo Bộ Tài chính, nợ cho vay lại của Chính phủ chủ yếu tập trung ở các dự án thuộc lĩnh vực có giá sản phẩm đầu ra do Nhà nước quản lý như giá điện, nước, phí đường bộ, đường cao tốc cần được Nhà nước hỗ trợ và có khả năng hoàn vốn thấp. Tuy nhiên, do chưa chủ động nghiên cứu và đưa ra được yêu cầu về mức độ, phương thức hỗ trợ rõ ràng, vì vậy khi dự án phát sinh nợ quá hạn thì không xác định được đâu là do lỗi chủ quan mà quy tất cả thành lỗ do cơ chế, chính sách.

Việc cho vay lại chính quyền địa phương vẫn chưa thành các nguyên tắc nhất quán và chưa khuyến khích các địa phương sử dụng vốn vay tiết kiệm. Trong khi đó, nguồn vốn vay nước ngoài được hỗ trợ không đồng đều cho các địa phương.

Một bất cập nữa được Bộ Tài chính chỉ ra đó là hiện nay chưa có chế tài đầy đủ để xử lý các trường hợp không trả được nợ và trong phần lớn các trường hợp không trả được nợ, Bộ Tài chính chỉ có thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ để cho gia hạn nợ, xoá nợ... mà không thể thu hồi vốn thông qua cơ chế thu hồi tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu doanh nghiệp phá sản để thanh lý tài sản, thu hồi nợ.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong đó có nguồn vốn vay, đã làm nợ công có xu hướng tăng nhanh trong thời gian qua, có thể ảnh hưởng tới sự bền vững nợ công (năm 2006 ở mức 405 nghìn tỷ đồng, bằng 41,5% GDP; năm 2010 là 1.392 nghìn tỷ đồng, bằng 54,9% GDP và năm 2012 là 1.643 nghìn tỷ đồng, bằng 55,7% GDP).

Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012. Dự kiến đến cuối năm 2013, dư nợ Chính phủ mức 1.573.810 tỷ đồng, bằng 42,6% GDP, dư nợ công mức 2.074.838 tỷ đồng, bằng 56,2% GDP. Dự kiến đến cuối năm 2014 dư nợ chính phủ mức 1.952.280 tỷ đồng, bằng 46,2% GDP, dư nợ công mức 2.528.380 tỷ đồng, bằng 59,8% GDP.

Mở rộng cơ chế để nâng cao trách nhiệm

Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%).

Đối với vay về cho vay lại, tính đến thời điểm cuối năm 2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012).

Tổng nợ quá hạn cho vay lại là 373,94 triệu USD, chiếm 3,45% tổng dư nợ cho vay lại. Các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng qua các ngân hàng thương mại được hoàn trả đầy đủ cho Bộ Tài chính, không phát sinh nợ quá hạn.

Về nghĩa vụ nợ của Chính phủ (không kể đảo nợ) so với thu ngân ngân sách nhà nước hàng năm luôn đảm bảo nằm trong giới hạn an toàn, bình quân khoảng 14-15% so với tổng thu ngân sách Nhà nước.

Theo Bộ Tài chính, trong thời gian tới sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay về cho vay lại với việc tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp - nhà đầu tư, giữa Chính phủ và chính quyền địa phương đối với các khoản vay nước ngoài của chính phủ về cho vay lại. Mở rộng cơ chế cho vay lại cho chính quyền địa phương để nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của địa phương; bảo đảm đối xử công bằng giữa các địa phương. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý và xử lý rủi ro về nợ công với việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và chủ động triển khai phương án xử lý rủi ro đối với một số khoản nợ của Chính phủ.

Theo baohaiquan.vn

Từ khóa: nợ quá hạn , Bộ Tài chính , thị trường vốn , giải ngân , nợ công , ngân hàng thương mại , rủi ro , ngân sách Nhà nước , nghĩa vụ nợ Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô

Thứ hai 24/02/2014 13:00

Thái Hằng

(Tài chính)“Sự hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô (TCVM)” chính là mục tiêu mà các tổ chức TCVM luôn luôn trăn trở trong quá trình hoạt động của mình.

Các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo. Nguồn: internet.

Tìm hướng tiếp cận mới

Theo nhận định của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các khoản tín dụng của TCVM nhỏ ở Việt Nam tương đương 4% GDP. Tuy nhiên, các tổ chức TCVM hoạt động trên thị trường Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo, 60% còn lại với khoảng hơn 12 triệu người còn lại với khoảng hơn 12 triệu người nghèo chưa tiếp cận được những dịch vụ này.

Trước đây, nhiều tổ chức TCVM quan tâm quá nhiều đến hiệu quả tài chính của hoạt động nên ảnh hưởng đến lợi ích của các thành viên tham gia. Minh chứng thường thấy là lãi suất quá cao vượt quá khả năng chi trả của người vay hoặc là cho vay vượt quá khả năng hoàn trả đã dẫn đến việc người nghèo bị rơi vào bẫy nợ nần khó có khả năng trả.

Thậm chí, hiện còn có rất nhiều dự án phát triển khác cũng sử dụng TCVM như một công cụ đòn bẩy kinh tế cho những nhóm yếu thế trong xã hội nhưng lại thiên nhiều về xã hội như cho vay không lãi suất hoặc lãi xuất quá thấp (bao cấp) hay vay mà không tính đến yếu tố quay vòng, không chú trọng đến tính bền vững về mặt tài chính của hoạt động TCVM.

Chưa kể hiện nay, số lượng TCVM không đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng nhỏ, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã được thành lập hơn 15 năm chỉ chiếm 1/10 số xã, phường trong nước. Số thành viên cũng chỉ chiếm 1/10 hộ gia đình tham gia. Từ đó có thể thấy rằng, sự thiếu tin cậy của người dân, chính quyền, các địa phương đối với phong trào hợp tác xã.

Mô hình tài chính vi mô đang ngày càng hoàn thiện song song với quá trình bùng nổ của lĩnh vực tài chính hết sức đặc biệt này. Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để phát triển nhiều hơn nữa ngành tài chính vi mô. Hoàn thiện nguồn cung tài chính, khơi dậy nguồn cầu tài chính và hướng đến việc sử dụng bền vững, hiệu quả các khoản tiền vi mô là những điều tài chính vi mô Việt Nam trong tương lai cần hướng tới.
Nguồn: INFI.
Đa số ý kiến đều cho rằng thị trường TCVM truyền thống tại Việt Nam là chỉ để phục vụ cho số người nghèo và những người thu nhập thấp và hộ thu nhập thấp hiện nay. Ngân hàng chính sách xã hội, một số Quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức TCVM bán chính thức vẫn là những nhà cung cấp tín dụng chủ yếu.

Lĩnh vực TCVM đang trong giai đoạn phát triển và từng ngày từng giờ những tổ chức này vẫn đang tìm tòi những hướng đi tốt để tiếp cận sâu rộng hơn tới cộng đồng những người yếu thế. Tuy nhiên, để làm được điều này theo ông Sebastian Dinjens, Giám đốc mạng lưới trao đổi về chuyên môn TCVM ở khu vực châu Á (INFI) cho rằng, những tổ chức TCVM cần phải chuyên nghiệp hóa hơn trong quản lý hiệu quả xã hội và thiết kế những sản phẩm phù hợp đặc biệt với nhu cầu của những người nghèo và yếu thế.

Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Tiêu chuẩn quản lý hiệu quả xã hội (SPM) đã ra đời và việc áp dụng bộ tiêu chuẩn này sẽ là một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này. “Bộ tiêu chuẩn phản ánh một mối quan ngại rằng các tổ chức TCVM đã không còn tập trung vào khách hàng. Hầu hết các tổ chức này đều khẳng định tăng cường lợi ích cho các khách hàng, nhưng trong hai thập kỷ qua nhiều tổ chức đã tập trung vào bền vững tài chính hơn là nhu cầu của khách hàng. Nhiều tổ chức trong số đó tập trung vào kết quả tài chính vì họ chỉ quản lý hiệu quả tài chính. Còn các tổ chức có mục tiêu xã hội cũng phải quản lý hiệu quả xã hội của mình. Bằng việc định nghĩa và đẩy mạnh quản lý hiệu quả xã hội, bộ tiêu chuẩn sẽ góp phần hướng sự tập trung của các tổ chức trở lại vào khách hàng”, Ông Sebastian Dinjens, Giám đốc INFI chia sẻ.

Để người nghèo không phải đối mặt với rủi ro

Trong bối cảnh hiện nay, với việc các loại hình làm ăn kinh doanh lớn nhỏ khác nhau đều chấp nhận và khuyến khích phát triển, việc hỗ trợ các nhóm đối tượng chịu thiệt thòi tiếp cận với nền kinh tế thị trường là điều phù hợp, thay cho cách tiếp cận mang tính nhân đạo trước đây. Nhiều chương trình và dự án sử dụng các công cụ tài chính để giúp những người yếu thế trong quá trình phát triển kinh tế có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống. 

Ông Sebastian Dinjens cho biết, rất nhiều tổ chức đang làm việc với những người dân ít được đào tạo, thậm chí là mù chữ. Họ thường sống ở những vùng nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, cho nên việc gia tăng thương mại với các nước đang mở ra nhiều cơ hội nhưng những người dân không có vốn để sản xuất ở dạng quy mô lớn đáp ứng cho thị trường này. Trong khi đó những khoản họ có thể tiết kiệm được lại thường không đủ cho những nhu cầu đầu tư. Đây chính là lúc mà TCVM có thể tác động bằng cách đưa ra những khoản vay để người dân đầu tư và phát triển làm ăn mà không phải đối mặt với nhiều rủi ro. Tuy nhiên điều này cũng yêu cầu các tổ chức TCVM phải có kiến thức về nhu cầu của những khách hàng và sẵn sàng đầu tư vào những mối làm ăn nhỏ của người dân nghèo Việt Nam.

Trên tinh thần đó, các hoạt động can thiệp về TCVM của INFI hiện nay, chủ yếu nhằm mục đích cải thiện sinh kế cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và cộng đồng. Trong một số trường hợp, các hoạt động TCVM cũng hướng đến việc tạo ra tính bền vững về mặt tài chính cho các chương trình, dự án.

“Trong các chương trình và dự án của Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam và INFI thực hiện, đã có 115 quỹ tín dụng vi mô và tiết kiệm được thành lập, cung cấp vốn vay cho hơn 7.000 hộ gia đình với tổng số vốn lên tới 14 tỷ đồng tính đến năm 2013. Ban đầu, nhiều người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn không dám vay vốn hoặc không quen với việc sử dụng vốn vay. Đến nay họ đều có khả năng sử dụng đồng tiền vay mượn và tiền tiết kiệm để phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đầu tư kinh doanh nhỏ hay mở rộng quy mô sản xuất. Trong tương lai, chúng tôi không chỉ hướng đến việc tăng cường phát triển doanh nghiệp vi mô cá thể và nhóm, mà còn hỗ trợ các nhóm sản xuất để giúp các nhóm này phát triển thành các doanh nghiệp nhỏ có khả năng tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện sinh kế cho những đối tượng chịu thiệt thòi”, ông Sebastian Dinjens thông tin.

Từ khóa: tài chính vi mô , xã hội , kinh tế , hiệu quả , dự án , người nghèo , người thu nhập thấp , nông thôn , lãi suất , bẫy nợ nần , đòn bẩy kinh tế , tín dụng , quỹ , GDP Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai 24/02/2014 14:00

TS. Nguyễn Minh Phong

(Tài chính) Trong sự đa dạng, nhiều chiều của các ý kiến về cải cách khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) và doanh nghiệp nhà nước (DNNN), dường như có cách hiểu chưa chuẩn xác về các vấn đề liên quan đến KTNN và DNNN... Dưới đây xin nêu về 3 ngộ nhận về KTNN và DNNN, đồng thời nói rõ thêm về các vấn đề này.

Cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP. Nguồn: internet

Ngộ nhận 1: Đồng nhất về tên gọi, nội hàm và vai trò chủ đạo của KTNN với DNNN

Nhiều ý kiến chưa phân biệt tên gọi KTNN và DNNN, mà thường dùng chung và đánh đồng với nhau. Từ đó dẫn đến sự ngộ nhận lớn là đồng nhất vĩnh viễn, cứng nhắc vai trò chủ đạo đương nhiên của KTNN với vai trò tương tự của DNNN.

Hơn nữa, hiểu cứng nhắc khái niệm chủ đạo trong nền kinh tế trước và sau Đổi mới, kéo theo những tranh luận “vô tiên khoáng hậu” về cách hiểu này.

Trước hết, cần khẳng định về tên gọi, KTNN khác DNNN và nội hàm của KTNN rộng hơn và bao quát trong nó DNNN chỉ như một bộ phận.

Từ năm 1986 đến nay, nội hàm KTNN trong công tác thống kê đã được xây dựng và điều chỉnh nhiều lần tương ứng với từng giai đoạn cụ thể.

Giai đoạn từ 1986-1990: KTNN bao gồm các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, các công ty kinh doanh thương nghiệp, ăn uống, xí nghiệp vận tải, xây dựng và dịch vụ phục vụ đời sống... của Nhà nước.

Giai đoạn từ 1991-2000: Theo Quyết định số 147/QĐ-PPCĐ ngày 23/12/1992 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, KTNN bao gồm các DNNN và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu bằng NSNN. Trong đó, DNNN là các đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị xã hội sở hữu 100% vốn, được thành lập và hoạt động theo Luật DN Nhà nước.

DNNN được chia theo cấp quản lý: DNNN Trung ương và DNNN địa phương. Còn các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp dựa chủ yếu vào NSNN; bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công như nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá thể dục thể thao... Các đơn vị, tổ chức chính trị và chính trị xã hội như Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... Các tổ chức xã hội nghề nghiệp như: Hội Nhà văn, Hội Điện ảnh, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, Hội Nhà báo, Hội Nghệ sỹ Sân khấu, Hội Luật gia...

Giai đoạn từ 2001-2010, KTNN gồm: Các DNNN, DN của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật DNNN. Các công ty TNHH một thành viên mà chủ sở hữu vốn là Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Các công ty cổ phần được cổ phần hoá từ DNNN hoặc một bộ phận của DNNN, đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần trở lên hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.

Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp: bao gồm các đơn vị kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực hành chính sự nghiệp mà kinh phí hoạt động dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước; các đơn vị này bao gồm: Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương (cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp); các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công đang hoạt động trong lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao...

Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, khi Luật DNNN bị xoá bỏ, các DNNN thực hiện chuyển đổi sang dạng DN hoạt động theo Luật DN, thì KTNN hiện bao gồm: Các DNNN 100% vốn Nhà nước đã chuyển đổi hình thức theo Luật DN và phần vốn và tài sản Nhà nước trong các DN khác đang hoạt động theo Luật DN.

Các quỹ và tài sản quốc gia khác (tài chính và phi tài chính) thuộc sở hữu Nhà nước và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước (các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công lập và bán công về nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao…, cũng như các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, công đoàn, Hội Cựu chiến binh..., và các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Liên minh hợp tác xã, Hội Nhà văn...

Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, DNNN được quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991). Theo Luật DNNN 2003, Điều 1. “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Sau khi Luật DN được ban hành năm 2005, thì DNNN được hiểu là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.

Theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN thì “DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên” .

Nghị định 99/2012/NĐ-CP còn khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào DN. Nhà nước chỉ đầu tư vốn, tài sản vào DN hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để KTNN thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Với giá trị to lớn về tài sản vật chất và phi vật chất, có thể nói, vai trò chủ đạo của KTNN là đuơng nhiên, không thể phủ nhận và không thể thay thế bởi bất kỳ thành phần kinh tế phi Nhà nước nào khác. Hơn nữa, nếu trước Đổi mới, chỉ có thành phần KTNN là chủ yếu, nên DNNN cũng đồng thời có vai trò chủ đạo trong khu vực DN xã hội. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế đa thành phần và quá trình hội nhập, các DNNN sẽ ngày càng giảm dần vai trò chủ đạo theo nghĩa truyền thống. Đồng thời, vai trò chủ đạo của KTNN, do đó, của DNNN đang có sự biến đổi theo hướng, từ chủ đạo tuyệt đối về lượng, lĩnh vực kinh doanh, sang chỉ chủ đạo trong lĩnh vực mà tư nhân không thể, không muốn đảm nhiệm và nhà nước cần độc quyền.

Nói cách khác, DNNN ngày càng giảm dần vai trò của mình trong nền kinh tế vì lợi nhuận, ngày càng thu hẹp sự chủ đạo từ phạm vi toàn bộ nền kinh tế chỉ còn vào một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt. Đồng thời, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN trong thời gian tới cũng cần được nhấn mạnh vào các nội dung và mục tiêu: Nắm giữ các tài sản, tổ chức các hoạt động độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bao an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn  vốn ngoài ngân sách Nhà nước.

Ngộ nhận 2: Đồng nhất cơ chế quản lý DNNN giữa nhiệm vụ kinh doanh vị lợi nhuận với nhiệm vụ công ích

Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh tế của Nhà nước, và do đó của DNNN, luôn có 2 mục tiêu với 2 tính chất khác nhau, đó là mục tiêu kinh doanh thông thường như các DN khác, và mục tiêu công ích đặc trưng riêng có của mình.

Vì vậy, cần xác định rõ theo các hệ tiêu chí đồng bộ và khoa học về tính chất kinh doanh và tính chất công ích của DNNN; từ đó làm rõ cơ chế quản lý phù hợp đáp ứng mục tiêu kinh tế-xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

Đây cũng là điểm nút để giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán và đánh giá các hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các DN trong thực tiễn cả quản lý Nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN, khiến các DNNN không hoạt động hiệu quả như mong muốn và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.

Đồng thời, sự bình đẳng giữa các DNNN với các DN khác ngày càng được khẳng định theo Luật Doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh, hoặc theo Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư Công (đang được xây dựng), với yêu cầu ngày càng mở rộng sự tham gia của các DN khác vào thực hiện các hoạt động công ích được tài trợ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo nguyên tắc khuyến khích đấu thầu công khai và bình đẳng, giảm thiểu tình trạng khép kín, sự chi phối của lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ… như tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Đại hội XI đã chỉ rõ.

Ngộ nhận 3: Đồng nhất cải cách DNNN với làm suy yếu khu vực DNNN và KTNN

Dù có xu hướng ngày càng giảm thiểu, thu hẹp, song như kinh nghiệm thế giới chỉ ra, tái cơ cấu và đổi mới quản lý DNNN trong bối cảnh mới không phải là làm suy yếu và dần xóa bỏ triệt để các DN và khu vực kinh tế này mà là làm cho chúng ngày càng hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn và đóng góp nhiều hơn cho kinh tế quốc gia theo nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Tính đến tháng 8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 17 tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước quan trọng (Tổng công ty 91); đã phê duyệt 100/101 phương án sắp xếp, đổi mới DN của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2015. Số lượng DNNN đã giảm mạnh, đến đầu năm 2013 cả nước còn 1.284 DN 100% vốn Nhà nước. Hiện có gần 50% số địa phương không còn DNNN kinh doanh thuần túy. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào các công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước-tư nhân tăng mạnh. Năm 2012 cả nước có trên 1900 công ty cổ phần có cổ phần Nhà nước chiếm trên 50% tổng số cổ phần phổ thông phát hành tại thời điểm cổ phần hóa.

Tuy nhiên, khu vực DNNN vẫn đang chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư, 70% viện trợ phát triển chính thức và sử dụng 60% vốn vay từ các ngân hàng thương mại, chiếm khoảng 30% GDP hằng năm.

Trong triển vọng, có thể và cần giảm tỷ trọng của DNNN trong GDP từ mức khoảng 30% GDP hiện nay xuống còn khoảng 10-15% GDP; đẩy nhanh hơn tốc độ cổ phần hóa và không nên để quá nhiều DNNN nắm cổ phần quá cao.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: kinh tế Nhà nước , doanh nghiệp nhà nước , Luật Doanh nghiệp nhà nước , cổ phần hóa , kinh tế thị trường , hội nhập quốc tế , vốn điều lệ , Luật Đấu thầu , Luật Đầu tư Công Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình

Tái cơ cấu kinh tế:

Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình

Thứ hai 24/02/2014 14:00

TS. TRẦN DU LỊCH

(Tài chính) Kinh tế Việt Nam bất ổn liên tục kéo dài 5-6 năm nay. Năm 2014-2015, doanh nghiệp (DN) muốn nhìn thấy kinh tế vĩ mô ổn định để tính toán kinh doanh. Bởi bất ổn vĩ mô thì mọi chính sách đều vô nghĩa. Do vậy, mối quan tâm của DN là những chính sách Chính phủ đang thực thi có hiệu quả.

Kinh tế Việt Nam bất ổn liên tục kéo dài 5-6 năm nay. Nguồn: internet

Chuyển biến vĩ mô

Nhìn lại 5-6 năm vừa rồi, Việt Nam trải qua một thời kỳ bất ổn kéo dài mà trung tâm bất ổn là bóng ma lạm phát. Chính vì vậy, tâm lý chung sợ lạm phát dẫn đến chính sách không dứt khoát, khiến DN mất phương hướng. Năm 2014, Chính phủ nêu 4 vấn đề đã được giải tỏa:

Thứ nhất, không để tái lạm phát. Dĩ nhiên lạm phát 6% cũng là lạm phát, nhưng sẽ không tăng cao vì yếu tố ảnh hưởng không còn. Như vậy chúng ta đã chuyển được từ lạm phát bị động sang lạm phát mục tiêu 6-7%.

Thứ hai, nếu một trong những bất ổn lo lắng nhất là ngân hàng thương mại thì hiện khả năng đổ vỡ, mất thanh khoản của các ngân hàng không còn, hiện chỉ còn cục nợ xấu đang tiếp tục xử lý. Chúng ta tin rằng lãi suất cao 15-20%/năm không còn nữa trong điều kiện lạm phát ổn định.

Thứ ba, dù kinh tế khó khăn xuất khẩu vẫn tăng 14-15%, thu được ngoại tệ; kiều hối đạt 11 tỷ USD và năm nay tiếp tục sẽ tăng; giải ngân FDI vẫn giữ bình thường và có thể tốt hơn. Tức có dòng tiền để ổn định tỷ giá.

Thứ tư, mặc dù trong 2 năm qua, nền kinh tế tăng trưởng 2 tốc độ, tốc độ tăng trưởng của DN trong nước thấp nhưng tốc độ DN FDI tăng trưởng tốt, song dù sao chỉ báo FDI cũng cho thấy, môi trường kinh doanh Việt Nam vẫn là môi trường có điều kiện phát triển.

Nói như vậy để thấy, kinh tế vĩ mô 2014 sẽ ổn định, đây là điều kiện tiên quyết để chúng ta tính chuyện mà Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận xét. Theo WB, quá trình hồi phục kinh tế thế giới chưa quá mạnh mẽ nhưng vững chắc hơn, dù rủi ro vẫn còn từ sự điều chỉnh chính sách của các nước giàu.

Chẳng hạn như gói QE3 của Hoa Kỳ, gói Abenomics của Nhật Bản. Để xử lý các vấn đề tài chính, nợ công của châu Âu và xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới theo hướng lãi suất cao hơn, việc tiếp cận tín dụng sẽ khó khăn hơn. Đồng thời, tăng trưởng tiềm năng của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang có xu hướng giảm dần.

WB cho rằng, nếu Việt Nam chỉ sử dụng công cụ chính sách tài khóa và tiền tệ sẽ không xử lý được vấn đề, cơ bản phải là tái cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế. Thực tế, trải qua 6-7 năm liền, chúng ta chỉ sử dụng 2 công cụ tài khóa và tiền tệ, 2 công cụ này không thể giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập và thay đổi tiềm năng được. Do đó, vấn đề hiện nay là phải tập trung tái cơ cấu.

Năm 2015, nền kinh tế phải thay đổi rõ nét 3 việc: tái cơ cấu đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nếu 2 năm tới có kết quả, đó là khởi đầu để tính tới tái cơ cấu chung nền kinh tế. Làm được việc này sẽ tránh kinh tế Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tăng tốc phát triển bền vững hơn.

Đồng bộ các giải pháp

Từ 2 năm nay, tôi kiên trì một mục tiêu là có 3 nhóm chính sách phải xử lý đồng bộ là tài khóa, tiền tệ và điều chỉnh giá dịch vụ công gồm giá điện, giáo dục, y tế. Nếu 3 vấn đề này không đặt trong một phương trình để cùng giải sẽ loại trừ với nhau. Đây là điểm phải làm và tôi thấy Chính phủ cũng đang đặt trong một bài toán để xử lý, đó là giữ lạm phát mục tiêu 6-7%. Bởi 3 nhóm này xử lý đồng bộ sẽ không tăng lạm phát bất thường, từ giá dịch vụ công, không làm tổng cầu tăng.

Riêng về vấn đề thị trường bất động sản, có nhiều ý kiến hỏi rằng có cứu được không? Xin nói rằng, Nhà nước, Chính phủ không thể cứu được thị trường bất động sản và cũng không nên cứu. Chính phủ chỉ có thể hỗ trợ như gói ưu đãi lãi suất 30.000 tỷ đồng cho vay mua nhà. Tất cả chính sách đó tạo nên sự ổn định vĩ mô còn thị trường thì tự điều chỉnh.

Về nợ xấu, hiện có thông tin cho rằng nợ xấu của Việt Nam không dưới 15%. Thật sự tôi không quan tâm nhiều đến con số nợ xấu bao nhiêu %, bởi nếu dùng biện pháp kỹ thuật nợ xấu có thể lên cao. Vấn đề quan trọng là Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã xác định và ai cũng thấy nợ xấu đang là vấn đề lớn phải xử lý. Vấn đề nữa là nợ xấu gây ra 2 việc, làm nghẽn hệ thống tín dụng và là nguy cơ làm đổ vỡ hệ thống ngân hàng, nhưng thời điểm này so với năm 2011-2013 đã cải thiện nhiều.

Theo tôi, DN Việt Nam hiện nay phân thành 3 nhóm. Thứ nhất, những DN không thể nào phục hồi, không kỳ vọng phục hồi, với nhóm này cũng không nên để phục hồi. Thứ hai, (nhóm DN chiếm đa số), trong 3 năm rồi chống chọi được với thị trường, đang tồn tại và cần chính sách hỗ trợ để vượt qua.

Theo thống kê, năm 2013 có 13.000 DN đã vượt qua được, chuyển từ nhóm chống chọi và trở lại phát triển. Nhóm cuối cùng chính là những DN thời gian qua phát triển tốt và hiện nay đang thôn tính các DN khác. Cần nhìn như vậy để có chính sách tái cơ cấu làm lành mạnh hóa nền kinh tế.

Theo saigondautu.com.vn

Từ khóa: nợ xấu , tái cơ cấu , lạm phát , vĩ mô , World Bank , tài khóa , nền kinh tế , dịch vụ công , doanh nghiệp , Chính phủ Các tin đã đưa Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ: Những vấn đề đặt ra Kinh tế Việt Nam 2014: Áp lực cải cách và triển vọng Không ai không thể thay thế Một chặng đường, nhiều giải pháp Cần sự chuyển biến thực sự tái cơ cấu kinh tế Yếu tố quyết định thoát bẫy thu nhập trung bình 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Hài hòa giữa hiệu quả tài chính và xã hội trong tài chính vi mô Nợ cho vay lại của Chính phủ: Đổ lỗi cơ chế khi nợ quá hạn Kinh tế đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính ĐẨY NHANH THOÁI VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÀNH Năm 2015 là thời điểm cuối để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoàn tất thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Mặc dù, các cơ quan chức năng đã có nhiều động thái hỗ trợ và chính các DNNN đã và đang tích cực đẩy mạnh triển khai, song nguy cơ lỗi hẹn là rất lớn khi khi việc thoái vốn gặp không ít những khó khăn khách quan và chủ quan.

Đọc nhiều nhất Lãi suất cho vay sẽ giảm trong thời gian ngắn? Điểm sáng lãi suất 2014 3 ngộ nhận về kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Bất động sản giá rẻ: Tranh mua, tranh bán thế nào? Doanh nghiệp Nhật Bản vững tin đầu tư vào Việt Nam Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS